CB-Cách phòng và trị bệnh đóng dấu lợn hiệu quả

2019-08-23 15:47:12

Đóng dấu lợn trong Nam gọi là bệnh dấu son là một trong 4 bệnh đỏ khá phổ biến ở lợn nuôi tại miền Bắc Việt Nam trước nay, đặc trưng bởi bệnh tích nổi cộm dưới da lợn: sung huyết màu đỏ, hình vuông hoặc hình tròn như con dấu son đóng trên da nên gọi là bệnh đóng dấu 

I . Đặc điểm của bệnh

Đóng dấu lợn trong Nam gọi là bệnh dấu son là một trong 4 bệnh đỏ khá phổ biến ở lợn nuôi tại miền Bắc Việt Nam trước nay, đặc trưng bởi bệnh tích nổi cộm dưới da lợn: sung huyết màu đỏ, hình vuông hoặc hình tròn như con dấu son đóng trên da nên gọi là bệnh đóng dấu.

Trong thiên nhiên tồn tại rất phổ biến ở nhiều loài vật, đặc biệt là lợn. Mọi lứa tuổi lợn đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là lợn choai. Bệnh ở lợn có biểu hiện tương tự như ở người. Kiểm soát bệnh ở đàn lợn chủ yếu là cải thiện điều kiện vệ sinh thú y và tiêm phòng vacxin.

II. Tác nhân gây bệnh

Do trực khuẩn Erysipelothrix rhusiopathiae, không có giáp mô và nha bào, không di động, không gây dung huyết, gram dương.

III. Điều kiện lưu hành

1. Động vật cảm nhiễm

Nhiều loài động vật cảm nhiễm với bệnh như lợn, ngựa, trâu, bò, chó. Lợn đặc biệt là lợn choai 3-4 tháng đến 1 tuổi bị mắc nhiều nhất. Người cũng có thể bị mắc bệnh.

2. Nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên

Chủ yếu ở gia súc, đặc biệt là lợn. Vi khuẩn thường sống hoại sinh trong hạch amidan, túi mật, van hồi manh tràng. Chuồng nuôi bị ô nhiễm cũng vô tình trở thành ổ chứa mầm bệnh. Trong lợn mắc bệnh vi khuẩn có trong bệnh tích dưới da, nếu mạn tính thì có cả trong van tim, dịch bao khớp... Có tài liệu cho biết 35% lợn khoẻ có mang trùng.

3. Đường lây truyền và thời gian lây truyền

Con vật đầu tiên mắc bệnh có thể là do vi khuẩn có sẵn trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tăng cường độc lực và gây bệnh hoặc cũng có thể do nhiễm vi khuẩn từ bên ngoài. Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn khoẻ hoặc gián tiếp qua thức ăn, nước uống và đồ vật bị ô nhiễm mầm bệnh. Bệnh lây lan còn do vận chuyển, mổ thịt.

Người bị lây bệnh do tiếp xúc với động vật có bệnh hoặc sản phẩm của chúng. Khi da bị trầy xước thì nguy cơ càng cao, hoặc khi tiêu thụ sản phẩm động vật chưa nấu chín.

Thời kỳ ủ bệnh: ở lợn 1-8 ngày, trung bình 3-5 ngày. ở người từ vài đến 1-2 ngày.

Thời kỳ lây truyền: trong suốt thời gian con vật mắc bệnh và sau khi khỏi bệnh vi khuẩn có thể còn tồn tại trên bệnh tích ở khắp da, khớp, van tim hàng tuần lễ.

4. Sức đề kháng của mầm bệnh với điều kiện tự nhiên và thuốc sát trùng

Vi khuẩn có thể sống được 17-35 năm trong môi trường dịch thể khi nút kín miệng ống. trong xác chết sống tới 9 tháng, nếu sấy khô được 3 tuần, trong chỗ ẩm, tối sống 1 tháng, ngoài môi trường sống 12 ngày. ở nhiệt độ 70oC chết sau 5 phút. 100oC chết ngay. Thịt nhiễm khuẩn nếu cắt dầy 15cm đun sôi 2 giờ chưa diệt được vi khuẩn. Xút 3%, Formol 3%, Clorua vôi 2%, phê nol 1% diệt khuẩn nhanh chóng.

5. Mùa vụ phát sinh, phát triển của bệnh

ở miền Bắc bệnh hay xảy ra vào mùa đông xuân.

6. Tình hình lưu hành

Bệnh xảy ra rải rác ở nhiều nơi trên thế giới. ở những nơi mà điều kiện vệ sinh chăn nuôi kém, lợn phải sống ở trong chuồng nuôi có phân rác ẩm ướt, bệnh dễ phát sinh. Nguyên nhân là vi khuẩn có sẵn trong hạch amidan của một số lợn khoẻ bài tiết ra, nó có thể số trong nền chuồng ẩm qua nhiều ngày. Khi lợn gặp stress do thời tiết thay đổi về mùa đông xuân hoặc thiếu thức ăn, bệnh sẽ phát sinh.

Bình thường là những ca lẻ tẻ, đôi khi thành dịch địa phương giết hại khá nhiều lợn. Nếu kết hợp với bệnh dịch tả lợn hoặc tụ huyết trùng thì tỷ lệ chết khá cao. ở vùng có khí hậu khô, vệ sinh tốt, ít xảy ra.

IV. Triệu chứng

1. Thể quá cấp tính.

Lợn bị bại huyết nặng nên chết nhanh chóng trong vòng 2-3 giờ hoặc 12-24 giờ sau khi thân nhiệt hạ. Có khi con vật đang ăn uống bình thường chỉ vài giờ sau kêu éc một tiếng rồi lăn ra chết. Thân nhiệt đột nhiên tăng cao 41- 420C, mắt đỏ, lợn không ăn uống, điên cuồng lồng lộn rồi rúc đầu vào khe chuồng rồi chết hoặc hộc máu ra chết. Con vật chết khi chưa kịp xuất hiện các vết phát ban đỏ ở trên da, chưa có triệu chứng lâm sàng chỉ khi mổ ra mới thấy thận sưng tụ máu từng đám. Thể này chỉ thấy ở lợn bột từ 15-20 kg và lợn nái chữa vào những hôm trời quá lạnh.

2. Thể cấp tính.

Thể này thường hay mắc, con vật ủ rủ mệt mỏi, giảm ăn hoặc bỏ ăn, lợn chui vào rơm nằm lì tai và đuôi không ve vẩy cử động con vật có thể bị hôn mê. Lợn sốt cao từ 42- 43oC da khô, run rẩy 4 chân lúc sốt có triệu chứng đi táo rặn nhiều phân từng cục như ngón tay caí có màu đen, có màng bọc lầy nhầy có con bị nôn mửa. Mãi về sau lợn mới ỉa chảy có khi lẩn cả máu. Mắt đỏ và bị chảy nước mắt, mi mắt bị sưng. Viêm niêm mạc mủi và bị chảy nước mủi, con vật thở khó, thở hồng hộc nhịp thở tăng, 2-3 ngày sau trên tai lưng bụng và mặt trong của 4 chân xuất hiện những vết đỏ các vết này có giới hạn rỏ rệt và rất đa dạng (hình vuông, hình quả trám, bầu dục hình đa giác...). Bệnh tiến triển trong vòng 3-5 ngày. Con vật yếu dần thở khó, con vật thân nhiệt hạ nhanh rồi chết tỷ lệ chết 50-60%. Nếu bệnh kéo dài hơn một tuần thì bệnh chuyển sang thể mãn tính.

3. Thể mãn tính

Con vật ăn uống kém , gầy còm thiếu máu, thân nhiệt bình thường hoặc sốt nhẹ. Con vật bị ỉa chảy dai dẳng. Lợn bị viêm khớp xương và hoại tử da và bị liệt hai chân sau. Triệu chứng hoại tử thấy ở nhiều nơi trên cơ thể như lưng, bụng, vai, đầu, mũi, tai, đuôi. Da sưng đỏ, lan rộng ra từng mảng lớn mảng da khô đàn và bị bong ra từng mảng lớn.

Bệnh tích:

Thể cấp tính: da và mô liên kết dưới da tụ máu. Thận sưng tụ máu có khi có chấm xuất huyết. Nếu bổ đôi quả thận thì 2 mảnh không dính lại được với nhau như bình thường. Lá lách sưng to, tụ máu màu đỏ sẫm. Hạch lâm ba sưng to có lấm tấm xuất huyết. Ruột và dạ dày viêm đỏ. Tim tụ máu, nội và ngoại tâm mạc xuất huyết. Phổi tụ máu. Thể mãn tính: Viêm nội tâm mạc, van tim sần sùi, có sợi tổ chức mới mọc ra như bắp cải hoa, có hiện tượng tụ máu ở phổi, gan và lách. Viêm khớp xương bàn chân, đầu gối, kheo, gót, sưng nóng đau. Da khô hoại tử, lột từng lớp, từng mảng. Viêm ruột mãn tính.

V. Chẩn đoán

Làm tiêu bản phủ tạng, nhuộm gram, nuôi cấy trên các môi trường thông thường, tiêm cho chuột bạch hoặc bồ câu.

VI. Phòng bệnh

1. Biện pháp phòng bệnh

Nuôi lợn ở nơi sạch sẽ và khô, không để đứng trong chuồng có phân ẩm ướt. Thức ăn đủ. Tiêm phòng vacxin. Hạn chế người tiếp xúc với động vật ốm, nếu da bị trầy xước phải tiêu độc ngay bằng cồn 700 hoặc thuốc sát trùng.

2. Biện pháp chống dịch

Hạn chế giết mổ, vận chuyển lợn trong vùng dịch. Xử lý luộc chín thịt khi có bệnh tích. Tiêm vacxin thẳng vào ổ dịch. Điều trị bằng Penicillin.

3. Kiểm soát nguồn dịch và môi trường

Cách ly và chữa trị lợn ốm. Tiêu độc chuồng nuôi. Phân, chất độn chuồng đen ủ nhiệt sinh vật học.

Theo haiduongdost.gov.vn


Xem thêm



N-Lịch vaccine cho heo nái dạ

Lịch vaccine cho heo nái dạ (heo nái đẻ từ lứa 2 trở đi) với mục đích kiểm soát các bệnh nguy hiểm thường gặp trên heo nái...






N-Cách phối trộn thức ăn cho lợn con

Khi lợn con bị mất mẹ hoặc mất sữa nếu không biết cách chăm sóc thì đàn lợn có thể chết hàng loạt, vì vậy cần chú ý các biện pháp chăm sóc để lợn khoẻ





Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia