CB-Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh ngay tại ao tôm (Phần 2)

2018-11-28 16:26:45

2. Quan sát tôm trong sàng ăn

Hằng ngày kiểm tra tôm trong sàng ăn. Tôm khỏe là tôm có:

- Màu sắc bóng đẹp.

- Phụ bộ đầy đủ không bị tổn thương.

- Đường ruột đầy và liên tục.

- Tôm búng mạnh, bơi nhanh.

- Nhìn rõ khối gan tụy.

- Giáp đầu ngực và chân bơi không bị nhờn – nhớt.

- Không bị bất kì tổn thương hay ngoại kí sinh nào bám trên cơ thể.

- Tôm ăn nhanh và đều đặn hằng ngày.

Ngoài ra còn cần quan sát tình trạng sợi phân, tình trạng thức ăn dư thừa và vỏ lột trong sàng ăn

Lưu ý rằng tôm trong sàng ăn luôn là tôm khỏe nên không biểu hiện chính xác tình trạng sức khỏe đàn tôm dưới ao. Cần định kỳ 5 – 7 ngày chài tôm một lần để kiểm tra, nhất là trong giai đoạn tôm lớn.

3. Chài tôm kiểm tra sức khoẻ

Tôm bệnh thường biểu hiện như sau:

- Mềm vỏ, trống ruột.

- Ngã nghiêng (nằm nghiêng) nhanh chóng sau khi chài lên.

Đục cơ trước 10 phút (khi chài lên) và thường xuyên xuất hiện đục cơ tại ao.

Biểu hiện của tôm yếu khi chày

Tôm chài lên cho vào một thau lớn, chứa xăm xắp nước để tiện quan sát. Khi tôm đã ổn định, tiến hành quan sát toàn thể mẫu tôm. Ba chỉ tiêu quan trọng nhất cần quan sát lúc này là độ đồng đều, tình trạng đầy ruột và màu sắc gan tụy vì những chỉ tiêu dễ quan sát này minh họa trực tiếp hiện trạng sức khỏe tôm nuôi.

Kích cỡ tôm: đánh giá độ đồng đều, mức độ phát triển của đàn tôm theo ngày tuổi từ đó đưa ra nhận định ban đầu về tình trạng sức khỏe của tôm. Nếu tôm quá nhỏ so với bình thường có thể đưa ra các giả định tôm bị nhiễm các bệnh gây chậm lớn. Nếu tôm lệch cỡ nhiều, có thể đưa ra giả thuyết tôm thiếu dinh dưỡng (thiếu khoáng hoặc thiếu ăn) hoặc nhiễm các bệnh gây lệch cỡ.

 Kiểm tra gan:

- Màu sắc bình thường: nâu vàng, vàng cam.

- Dịch gan: khi bóp gan ra, co dịch màu nâu vàng sệt, không chảy.

- Mùi: mùi tanh nhẹ - đặc trưng.

- Màng bao: nhìn từ ngoài vò giáp, thấy màng bao gan màu vàng nhạt bọc ½ gan dưới.

- Hình dạng: rộng - tới hai mép mang, dài - ngang cổ giáp; rõ ràng, sắt nét.

- Thấy rõ dạ dày “hạt gạo” có màu đen nổi bật

Đặc điểm gan tụy tốt

 Kiểm tra ruột

 Quan sát và đánh giá khi tôm còn sống.

- Điểm trung bình < 1,6: tôm bị thiếu ăn hoặc bệnh.

- Nếu đã cho ăn ≥ 80% tổng lượng thức ăn khuyến cáo và ít nhất 3 lần/ngày mà ruột ≤ 1,6 là tôm bệnh.

Các chỉ tiêu nhận biết bệnh trong mẫu tôm khác như:

Màu sắc vỏ tôm: màu tôm bình thường hay khác thường; tình trạng các hạt sắc tố trên vỏ tôm. Có thể xem thêm về thay đổi màu sắc ở tôm nuôi nhằm đưa ra đánh giá sơ bộ.

 Tình trạng vỏ ngoài: tình trạng trơn láng hay lồi lõm của vỏ cho biết sơ lược về trạng thái dinh dưỡng của tôm. Tôm đủ dinh dưỡng có vỏ bóng, khá dày chắc trong khi tôm bệnh vỏ thường lồi lõm.

Ngoài ra, vỏ rất mỏng do/hoặc không do lột xác không cứng vỏ thường cho thấy môi trường nước xấu và tôm sốc rất nặng. Nếu trong chày có số lượng tôm mỏng vỏ nhiều hơn 5% thì cần đặc biệt lưu ý.

 Hình dạng bất thường: tình trạng dị hình (do các bệnh hay gặp như ASDD hoặc IHHNV), gãy gai chủy, đứt râu, mòn cụt chân bơi, chân bò, chóp đuôi (do đáy ao dơ); vỏ có các chấm đốm đen, đốm nâu, đốm trắng (do nhiễm khuẩn hoặc do bệnh taura).

Đục cơ: tỉ lệ tôm đục cơ/chài; các kiểu đục cơ (đục thành điểm, vệt hay đục nguyên thân tôm) luôn là dấu hiệu của tình trạng sức khỏe không tốt trên tôm.

Nhiều tôm có đốm đen như vết thương cũ: nguyên nhân là do bệnh vi khuẩn và thường liên quan tới hàm lượng chất hữu cơ cao trong nước.

Tôm bị đốm đen trên vỏ

Tôm có sinh vật bám bên ngoài vỏ: có thể là do bacteria, protozoans, hoặc algae. Hai nguyên nhân đầu là do nước hữu cơ cao. Trong mọi trường hợp đều cho thấy ra tôm chậm lớn và khó lột.

Tôm trắng đuôi: do bệnh hoặc do nhiệt độ thấp hoặc cao. Trong trường hợp cuối, tôm thường vẫn hoạt động bơi lội và có dấu hiệu sốc, thậm chí nhảy ra khỏi mặt nước. Một vài trong số chúng sẽ mất các điểm trắng nếu đặt trong bể sục khí tốt trong 1 ngày.

Tôm trắng đuôi

Mang: mang bình thường có màu trắng trong suốt. Mang đổi màu sang vàng, nâu hay đen thường do đáy ao dơ, chất hữu cơ trong nước nhiều. Ngoài ra, các vùng trắng như tuyết trên mang có thể là mang bị hoại tử do bão hòa khí trong nước.

 Phụ bộ: sưng phồng hay gãy phụ bộ thường do nhiễm khuẩn từ những vùng đáy ao bị ô nhiễm

Phồng đuôi

Kiểm tra bên ngoài thân

 Sau khi quan sát tổng thể mẫu tôm và ghi nhận các dấu hiệu bất thường thì tiến hành cân khối lượng, tính số lượng đàn tôm dưới ao. Trọng lượng đàn tôm dưới ao giúp người nuôi đánh giá mức tăng trưởng của tôm và là cơ sở điều chỉnh lượng thức ăn.

Ước tính tổng số lượng tôm trong ao theo công thức:

Hoặc theo công thức

Nếu có thể, trong mỗi lần chài mẫu tôm người nuôi nên cân – đo chiều dài và trọng lượng của 100 con tôm thu ngẫu nhiên và biểu diễn số liệu thu được dưới dạng biểu đồ. Đường cong của biểu đồ số liệu chiều dài – trọng lượng mang lại thông tin quan trọng về xu hướng phát triển của đàn tôm. Ví dụ, một đàn tôm khỏe mạnh thường có đường biểu đồ cao, nhỏ gọn và các giá trị phân bố đối xứng hai bên đường con (giá trị trung bình). Đường cong uốn lượn và các số liệu phân bố rộng có thể là dấu hiệu của sự cạnh tranh thức ăn hoặc thiếu ăn. Bằng cách so sánh các đường phân bố kích thước – trọng lượng trong cùng một ao từ tuần này sang tuần khác, có thể thấy được mức độ khoẻ mạnh và sự phát triển của toàn đàn tôm trong ao.

4. 5 đúng khi chuẩn đoán và điều trị bệnh tôm

Căn cứ trên 5 nguyên tắc chuẩn đoán và điều trị bệnh tôm người nuôi có thẻ đưa ra quyết định hợp lý trong các trường hợp cụ thể.

Đúng bệnh:

- Bệnh gì? Mắc bao nhiêu bệnh cùng lúc?

- Tác nhân gây bệnh là gì?

- Ưu tiên bệnh nào trị trước hay kết hợp?

- Tỉ lệ nhiễm bệnh là bao nhiêu phần trăm?

- Tình trạng tổng thể của đàn tôm trong ao là thế nào?

Đúng thuốc:

- Thuốc gì trị cho bệnh này?

- Liệu trình như thế nào?

Ví dụ: trường hợp bệnh đóng rong đóng nhớt (do Zoothamnium sp.) thì nên xử lý như thế nào?

Chúng ta có thể theo 3 bước sau: cho tôm ăn premix khoáng trong 2 ngày liên tiếp, sau là tiến hành diệt Zoothamnium sp. (bằng BKC) tiếp theo là kích thích tôm lột xác (sử dụng formalin) để loại bỏ mầmZoothamnium sp. còn dính trên vỏ, cuối cùng là cải thiện lại môi trường nước, bằng cách dùng vôi CaCO3 và Zeolite keo tụ chất lơ lửng và giảm nhờn nước.

Đúng liều: Chúng ta cần tham khảo nồng độ cần thiết để tiêu diệt mầm bệnh của các hóa chất sử dụng từ đó đưa ra liều lượng chính xác. Các liều dùng này thường được cung cấp từ các nghiên cứu khoa học.

Liều dùng trên các sản phẩm thương mại thường thấp hơn liều hiệu quả trong thực tế. Người nuôi cần tham khảo thêm các tư vấn từ đại lý và chuyên viên kỹ thuật.

Đúng lúc: Là lựa chọn thời điểm sử dụng thuốc hiệu quả nhất, tức là thời điểm thuốc phát huy tác dụng cao nhất và mầm bệnh bị tiêu diệt nhiều nhất, đồng thời phải chú ý đến thời điểm tôm khỏe nhất, môi trường ao nuôi ổn định nhất.

Đúng cách:

Ví dụ: khi muốn đưa men - vi sinh vào đường ruột thì phải trộn vào thức ăn cho tôm ăn. Muốn cải thiện nền đáy ao bằng men - vi sinh thì phải sử dụng men vi sinh dạng hạt và dạng bột, nếu muốn cải thiện chất lượng nước thì chọn men – vi sinh dạng nước hoặc dạng bột mịn.

Theo thuysan247.com

Xem thêm: Kinh nghiệm chuẩn đoán bệnh ngay tại ao tôm (Phần 1)

Ý kiến bạn đọc ()
Nguyễn Chí Thanh
29/11/2018 09:26

Rất hay


Xem thêm





CB-Phòng và xử lý bệnh tôm

Chlorine 30ppm: xử lí bệnh phát sáng và phân trắng.Formaline 70ppm: SEMBVB.K.C 1-2ppm (Cleaner-80): Bệnh phát sáng và phân trắng.KMnO4 2-3ppm...




CB-Bệnh đóng rong trên tôm

Đóng rong là một bệnh chủ yếu do môi trường tạo ra trong đó các tác nhân chính là tảo, nấm, động vật nguyên sinh và vi khuẩn tác động lên nhau tạo thành bệnh.





Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia