N-Kỹ thuật nuôi vịt đẻ trứng (vịt sinh sản) hiệu quả nhất

2020-02-13 11:12:57

Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải. 

1. Chọn vịt sinh sản
Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 – 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật… Vịt trống được chọn khắt khe hơn và ghép trống mái theo tỷ lệ 1 : 5, 5 – 6. Khi sắp đẻ, vịt đã thay lông xong, bộ lông mượt trở lại. Nhìn bộ lông có thể đánh giá tương đối chính xác chất lượng nuôi dưỡng giai đoạn hậu bị.

2. Chuồng trại, ao hồ
Chuồng nuôi vịt đẻ cũng có các kiểu chuồng như chuồng – sân – ao, chuồng sàn trên ao. Yêu cầu đối với chuồng nuôi là nền chuồng phải khô ráo, tránh chuột và các động vật khác phá ổ trứng. Tránh mưa nắng cho ổ đẻ. Ổ đẻ được để sát vách chuồng. Ổ đẻ phải làm phía trong chuồng để khi vịt từ ao lên, đi qua sân chơi vào chuồng đến ổ đẻ thì chân đã khô, không làm dơ ướt ổ đẻ. Có thể ngăn riêng cho khu vực ổ đẻ, sau 8 giờ sáng ngăn khu vực này lại để tránh vịt vào nằm trong ổ đẻ làm dơ ổ đẻ.
Mật độ nuôi: 2 – 3 con/m2 nền chuồng. 
Lót nền chuồng và ổ đẻ bằng rơm khô, cỏ khô, trấu. Đặc biệt chú ý lót ổ đẻ, phải thay thường xuyên để tránh ẩm ướt và mốc. Trong điều kiện ẩm ướt, nấm và vi khuẩn rất dễ phát triển. Ổ đẻ được làm bằng gỗ, tre, tấm cót,… thành từng ô có kích thước 40 x 60 x 40 cm. Tính trung bình, mỗi ô cho 4 – 6 con mái đẻ.

Ổ đẻ của vịt
 

Ví dụ: Một đàn vịt đẻ có 100 con mái thì làm 4 cái ổ đẻ, mỗi cái 5 ô đẻ. Đàn vịt có 500 mái thì làm 15 cái, để dọc theo vách chuồng (chiều dài 30 m). 
 
Nếu làm chuồng sàn trên ao cá, trước hết chúng ta lót sàn ở chỗ đặt ổ đẻ bằng tấm cát-tăng, cót… rồi mới đặt ổ đẻ lên, nhằm tránh cho rơm, trấu rơi xuống ao. 
 
Ao nuôi vịt đẻ có độ sâu 1,2 mét trở lên. Nước phải được thay sạch sẽ để đảm bảo tỷ lệ đẻ và tỷ lệ phôi. Cần chú ý cầu ao, với độ nghiêng không quá 250 và mặt cầu không trơn trượt, không gồ ghề để tránh dập vỡ buồng trứng.

3. Thức ăn, nước uống
Thức ăn cho vịt đẻ nuôi nhốt có hai dạng phổ biến sau:
– Nuôi vịt đẻ bằng thức ăn viên hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên như ốc tươi, còng tươi và lúa.
– Nuôi vịt đẻ hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên). Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng,… Không được nhầm lẫn thức ăn vịt đẻ hướng trứng (thường có tỷ lệ protein thấp hơn) với thức ăn cho vịt đẻ hướng thịt cao sản này. Tránh thay đổi liên tục loại thức ăn, như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng suất vịt đẻ. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải ổn định về chất lượng, nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng và vệ sinh. 
Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát. 
Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét  đủ cho 70 – 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn.
Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.

Máng ăn cho vịt (gỗ hay tôn) 

Nuôi vịt đẻ trứng hiệu quả cao bằng chế phẩm sinh học:
 
Đây là giải pháp chăn nuôi bền vững, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo kinh nghiệm của nhiều hộ chăn nuôi, việc cho Vịt kết hợp ăn hoặc uống Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái giúp thể trạng của Vịt khỏe mạnh hơn, nâng cao được tỷ lệ đẻ và ấp phôi, tiết kiệm được chi phí thức ăn, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi và giảm được mùi hôi chuồng trại trong chăn nuôi.
 
4. Chiếu sáng 
Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 – 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 – 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 – 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 – 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao. 
 
5. Nhặt và bảo quản trứng
Vịt đẻ tập trung vào 2 – 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 – 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 – 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37oC. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng. 
 
Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20oC thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 – 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng. 
 
Nếu nuôi đúng kỹ thuật, vịt bắt đầu đẻ trứng lúc 24 tuần tuổi. Sau đây chúng tôi xin nêu một trường hợp để tham khảo, với sản lượng trứng bình quân 203 quả/mái/42 tuần đẻ. Qua đồ thị tham khảo này, người chăn nuôi có thể theo dõi, kiểm tra đàn vịt đẻ của mình. Trong thực tế không thể hoàn toàn đạt được một đồ thị đẻ trứng lý tưởng, nhưng nếu tỷ lệ đẻ dao động quá lớn (10% trở lên) là không tốt, cần phải kiểm tra lại ngay các khâu nuôi dưỡng.
 
Sản lượng trứng và tỷ lệ đẻ trứng qua các tuần đẻ
 
6. Chích ngừa bệnh dịch tả vịt
 
Đối với vịt, dịch tả vịt là bệnh bắt buộc phải chích ngừa. Hiện nay, trên thị trường có một số loại vắc xin được sản xuất trong và ngoài nước. Trại vịt giống VIGOVA nhiều năm qua sử dụng vắc xin của công ty thuốc thú y TW2, TP. Hồ Chí Minh. Loại vắc xin này dễ sử dụng, hiệu quả cao và giá rẻ. Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi.
 
Lịch chích ngừa cho vịt bố mẹ như sau:
 
18 ngày tuổi: 0,5 cc/con.
 
8 – 9 tuần tuổi (sau khi chọn vịt hậu bị): 1 cc/con.
 
21 tuần tuổi: 1 cc/con.
 
Những nơi có nguy cơ bệnh cao, có thể chích nhắc lại vào giữa chu kỳ đẻ trứng (sau 6 – 7 tháng đẻ), nhưng phải thận trọng vì có thể làm giảm tỷ lệ đẻ.
 
TS Dương Xuân Tuyên

Theo nhachannuoi.vn


Xem thêm










N-Cách phân biệt vịt đực vịt cái

Trong nghề nuôi vịt sinh sản, việc chọn con cái lúc mới nở để làm giống rất có ý nghĩa kinh tế đặc biệt là nuôi vịt giống tốt, phẩm cấp giống cao.



Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia