NT-Kỹ thuật nuôi cá quả (lóc) thương phẩm miền Bắc

2018-01-17 14:57:25

Cá lóc miền bắc được nuôi với nhiều hình thức khác nhau như: nuôi ao, nuôi trong mùng, vèo… do nghề nuôi chủ yếu tận dụng vào nguồn cá tạp đánh bắt ngoài tự nhiên nên mùa vụ nuôi thường tập trung vào mùa lũ, vèo nuôi cá thường đặt trên sông hoặc ven ruộng để nuôi. Tập trung ở một số xã như: Ba sao, Tân Hội Trung, Phong Mỹ, Phương Trà, Phương Thịnh, Mỹ Hội…. Cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng và là nguồn thực phẩm tốt cho người dân.

Hiện nay, có 4 loài cá lóc được nuôi phổ biến: Cá lóc đen, cá lóc bông, cá lóc môi trề và cá lóc đầu nhím.

1. Công tác chuẩn bị

a. Loại hình nuôi ao

– Ao mới đào hoặc tận dụng ao có sẵn. Diện tích dao động từ 100 – 1.000 m2 là thích hợp. Ao có dạng hình chữ nhật để tiện cho việc kiểm soát và thu hoạch cá. Bờ ao phải cao để đảm bảo cá nuôi trong mùa lũ không bị thất thoát.

*Đối với ao cũ:

    Tát cạn ao, nạo vét ao chừa lớp bùn đáy 15-20cm, vệ sinh sạch cỏ xung quanh ao, lấp các hang hốc, không để có mọi rò rỉ, sau đó bón vôi từ 7 - 10kg/100m2 và phơi nắng từ 2-3 ngày tiến hành cấp nước vào ao qua lưới lọc với mức nước từ 1,2-1,5m. Sau đó bón phân gây màu nước: Phân chuồng 5 - 10 kg/100m2 ao nuôi, phân hóa học (NPK) 3 - 4 kg/1000m2.

*Đối với ao mới:

 Sau khi xây dựng ao xong, cho nước vào tháo rửa ao 2 -3 lần để  rửa bớt phèn có trong ao. Tiến hành rải vôi ở khắp đáy ao và mái bờ. Liều lượng vôi tùy thuộc vào độ phèn của ao. Nếu ao ít phèn (pH trên 4,5) dùng 7 - 10 kg/100m2, nếu ao nhiều phèn (pH dưới 4,5) dùng 10 - 15kg/100m2. Bón phân gây màu nước liều lượng cao hơn so với ao cũ: phân chuồng 10 - 15 kg/100m2 ao nuôi, phân hóa học (NPK) 4 - 6 kg/1000m2.

Đối với những ao không có điều kiện tháo cạn nước, trong ao có nhiều cá tạp thì dùng rễ cây thuốc cá dập kỹ ngâm một đêm vắt lấy nước pha loãng tạt đều khắp ao, liều lượng 1kg rễ/1000m3 nước hoặc dùng Saponin liều lượng dùng theo hướng dẫn trên bao bì để diệt hết các cá tạp, cá dữ còn trong ao. Thời gian xử lý thuốc diệt cá tốt nhất là vào lúc 7-8h sáng. Chú ý sau khi xử lý thuốc diệt cá phải để 7-10 ngày sau mới thả cá giống.

* Lấy nước vào ao:

Khi lấy nước vào ao nước phải được lọc qua lưới dày để không cho cá tạp, cá dữ theo vào ao nuôi.

Sau khi bón vôi, phơi đáy ao 2-3 ngày bón phân chuồng lấy nước vào ao đạt độ sâu từ 1- 1,2 m, chờ khoảng 5-7 ngày nước có màu xanh lá chuối non là nước tốt. Kiểm tra nước trong ao có độ pH =7-8, độ trong 30-40cm thì tiến hành thả cá nuôi.

b. Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới đặt trong ao)

– Kích thước mùng lưới đặt trong ao phổ biến là: 5 x 3 x 2m có khả năng nuôi từ 6.000 – 8.000 con hoặc nuôi trong vèo 9 x 5 x 2m có thể nuôi từ 5.000 – 7.000 con. Tùy theo điều kiện của từng hộ nuôi mà ta chọn kích thước vèo (mùng).

+ Cách chọn lưới may mùng là loại lưới cước được dệt có sợi chỉ lớn bằng nilon, ít thấm nước và có độ chắc cao. Thông thường người nuôi chọn lưới sợi lớn 3,6 ly, kích thước lỗ lưới 2,5cm.

+ Cách đặt vèo (mùng): Khoảng cách từ mặt nước trở lên cao 1 – 1,5m, khoảng cách từ đáy lưới đến đáy ao là 0,5m không nên để sát đáy ao vì thức ăn dư thừa và chất thải sẽ tích tụ sinh ra ô nhiễm.

2. Thời gian và mùa vụ nuôi

Ta có thể nuôi quanh năm nếu có thể chủ động được nguồn thức ăn.

– Vụ 1: tháng 4 – 5 âm lịch và thu hoạch vào tháng 8 – 9 là do nhiệt độ dịu mát, có nguồn thức ăn dồi dào, cá lớn nhanh nhờ nguồn thức ăn rẻ và dễ tìm.

– Vụ 2: Bắt đầu từ tháng 8 – 9, thu hoạch vào tháng 12 và tháng Giêng. Giai đoạn này có nhiều nguồn thức ăn từ nguồn phụ phẩm thủy sản tự nhiên.

– Vụ 3: Bắt đầu từ tháng Giêng đến tháng 7, nên hạn chế nuôi ở vụ này vì thời gian này cá chậm lớn, thức ăn cho cá hiếm và đắt, người nuôi không có lãi.

3. Chọn cá giống: Nên chọn cá khỏe, có kích thước đồng đều, cơ thể không bị xây xát, không bị dị tật hay nhiễm bệnh.

4. Mật độ thả

– Đối với hình thức nuôi ao: 20 – 35 con/m2.

– Đối với hình thức nuôi bè: 80 – 150 con/m2.

– Đối với hình thức nuôi mùng (vèo) đặt trong ao: 80 – 100 con/m3.

5. Chăm sóc và quản lý

a. Chăm sóc

– Cá lóc miền bắc là loài ăn động vật thành phần thức ăn bao gồm nhiều loài động vật tươi sống như: cá tạp, tép, ếch, nhái, cua, ốc…Trong quá trình nuôi có thể tập luyện cá giống quen dần với thức ăn chế biến từ các nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp, tấm, cám, bắp và Vitamin C…

– Cách cho ăn: Thông thường ở thời điểm đầu thả giống do kích thước cá còn nhỏ nên thức ăn cần được xay nhuyễn.

– Dụng cụ cho cá ăn là sàn tre đan lưới hơi thưa và nhẵn được đặt xăm xắp nước, chung quanh sàn có gờ chắn để thức ăn không bị tuột trôi ra ngoài, đồng thời cũng giúp cá ăn từ dước lên trên mặt sàn.

– Khẩu phần cho ăn: Được định lượng cho phù hợp với các nhu cầu dinh dưỡng và tình hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá, có thể tóm tắt theo bảng sau:

Kích cở cá giống (g/con)

Khẩu phần thức ăn (%)

10 – 20

8 – 10

20 – 30

5 – 8

30 – 50

5 – 8

50 – 100

5 – 8

>100

5

– Thời gian cho cá ăn: Sáng từ 7 – 8 giờ, chiều từ 4 – 5 giờ.

– Hiện nay có thức ăn viên chuyên dùng cho cá lóc, hệ số thức ăn dao động 1,2 – 1,3.

b. Quản lý hệ thống nuôi

– Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2 – 3 tuần thay nước một lần.

– Định kỳ bón vôi ổn định pH nước 2 – 3 kg/100 m3 nước.

– Định kỳ bổ sung vitamin C và khoáng chất.

– Đối với bè nuôi phải thường xuông treo giỏ thuốc (dây lác, lá xoan hoặc vôi bột…), treo đầu bè.

6. Phòng và trị một số bệnh thường gặp

a. Bệnh trùng bánh xe

Triệu chứng: Khi cá bị mắc bệnh thường bơi lội lung tung, nổi từng đàn lên mặt nước, một số con tách đàn bơi quanh bờ, da cá chuyển màu xám. Trùng phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạt thở bơi lội lung tung không định hướng.

Trị bệnh: Tắm nước muối 2 – 3% trong thời gian 5 – 15 phút; Dùng sulphat đồng tắm với nồng độ 3 – 5 g/m3 trong thời gian 5 – 15 phút hoặc phun xuống ao với nồng độ 0,5 – 0,7 g/m3; Dùng formalin tắm với nồng độ 200 – 250 ml/m3 thời gian 30 – 60 phút hoặc phun xuống ao 20 – 25ml/m3.

Nếu dùng formalin phải chú ý theo dõi tình trạng của cá trong ao. Cần sục khí trong suốt thời gian xử lý.

b. Bệnh Trùng quả dưa

Triệu chứng: Cá bị bệnh thường nổi đầu, bơi lờ đờ, quẫy mạnh hoặc cọ mình vào cây cỏ thuỷ sinh. Da mang cá bị bệnh tiết nhiều dịch nhầy và có màu sắc nhợt nhạt. Có thể thấy rõ bằng mắt thường cho nên bệnh này thường được gọi là bệnh đốm trắng trên cá.

Trị bệnh: Dùng formalin nồng độ 200 – 250 ml/m3 tắm trong 15-30 phút có sục khí, phun với nồng độ 20 – 25 ml/m3 mỗi tuần 2 lần.

c. Bệnh sán lá đơn chủ

Triệu chứng: Cá bị bệnh có dấu hiệu bơi bất thường, mang có hiện tượng sưng, phù nề, cá nổi đầu và bơi lội chậm chạp, cơ thể gầy yếu chết từ rải rác đến hàng loạt ở cá hương cá giống.

Trị bệnh: Dùng thuốc tím tắm với nồng độ 20 g/m3 trong thời gian 15 – 30 phút; Dùng muối tắm với nồng độ 2 – 3 % trong thời gian 5 phút; Dùng formalin nồng độ 200 – 250 ml/m3trong thời gian 30 – 60 phút có sục khí hoặc nồng độ 20 – 25ml/m3 trong trường hợp phun.

d. Bệnh trùng mỏ neo

Triệu chứng: Cá bơi không bình thường, khả năng bắt mồi giảm dần, gầy yếu, dị hình cong đuôi, trên thân có các vết đỏ nhỏ. Khi ký sinh phần đầu của trùng cắm sâu vào trong tổ chức cơ của ký chủ, phần thân lơ lửng trong nước. Cá bố mẹ bị nhiễm trùng mỏ neo với số lượng nhiều, tuyến sinh dục sẽ không phát triển được.

Trị bệnh: Thay nước mới kết hợp với bón nước vôi bột hòa tan liều lượng 2 kg/100 m3; Dùng lá xoan 0,4 – 0,5 kg/m3nước ngâm xuống ao cá bị bệnh; Dùng thuốc tím nồng độ 10 – 12 g/m3 tắm từ 1 – 2 giờ.

e. Bệnh rận cá

Dấu hiệu: Chúng ký sinh bám trên da cá, hút máu cá đồng thời phá hủy da cá, làm viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm ký sinh trùng khác xâm nhập và gây bệnh cho cá nuôi.

Phòng trị bệnh: Khi cá nhiễm bệnh, dùng thuốc tím với nồng độ 10 g/m3 tắm hoặc ngâm trong 1 giờ.

g.Bệnh viêm mắt miệng

Dấu hiệu: Mắt hoặc miệng cá bị viêm do vi khuẩn Chondrococcus gây ra làm cho mắt hoặc miệng cá bị biến dạng, sùi lên. Bệnh nặng làm cá bị mù hoặc mất khả năng kiếm mồi.

- Phòng trị bệnh: 

+Tắm cho cá bằng nước muối nồng độ 3% trong 10-15 phút, lưu ý nếu trong lúc tắm thấy cá có biểu hiện khó chịu (nổi đầu lên mặt nước) thì vớt cá ra. Tiến hành tắm cá thường xuyên, mỗi ngày 01 lần, bệnh nhẹ thì khoảng 03 ngày thì bớt.

  +Trộn kháng sinh Ciprocan với lượng 4g/kg thức ăn, ngày cho ăn 2 lần trong 5-7 ngày liên tục.

h. Bệnh trắng da

  Dấu hiệu: Bệnh dễ xuất hiện khi cá bị xây xát hoặc bị sốc do đánh bắt, vận chuyển hoặc do nhiệt độ môi trường nước thay đổi đột ngột. Khi nhiễm bệnh, cá có biểu hiện bơi lội lờ đờ và bỏ ăn. Nếu bệnh nặng, trên cơ thể cá xuất hiện những vệt trắng và những vết thương, có nấm phát triển.

Phòng trị bệnh:  Cần duy trì chất lượng nước tốt và định kỳ bón vôi với liều lượng 2 – 4 kg/100m3 nước. Cần điều trị bệnh kịp thời khi cá mới chớm bệnh. Dùng formol với liều lượng 25 ml/m3 nước. Sau 24 giờ, thay 50% nước mới vào ao. Trộn thuốc kháng sinh Oxytetracycline 5 gam/100 kg cá hoặc Sulfadimezin 5 gam + Oxytetracycline 2 gam/100 kg cá. Cho cá ăn liên tục 5 – 7 ngày.

i. Bệnh thối vây đuôi

  Dấu hiệu: Sau khi đánh bắt hoặc vận chuyển cá bị nhiễm trùng vết thương, cũng có thể cá tấn công lẫn nhau cắn vào vây bụng vây đuôi làm cá bị viêm nhiễm khuẩn.

Phòng trị bệnh: Tắm cho cá bằng dung dịch thuốc tím 1g/m3. Dùng kháng sinh –Pantacin 200 với lượng 3mg/kg thức ăn cho ăn ngày 2 lần trong 5 - 7 ngày liên tục.

7. Thu hoạch cá lóc

Thời gian nuôi ít nhất là 6 tháng, thông thường là 6 – 8 tháng.

– Trước khi thu hoạch 2 – 3 ngày không nên cho cá ăn để hạn chế cá bị chết trong quá trình vận chuyển.

Cổng Nông Dân (ST)

 

 

Xem thêm





CB-Bệnh gan thận mủ trên cá lóc

Hiện nay, bắt đầu vào mùa mưa, nhiệt độ nước thấp. Đây là điều kiện thuận lợi để nhiều mầm bệnh phát triển mạnh, đặc biệt là bệnh gan, thận có mủ.


CB-Bệnh lở loét trên cá lóc

Hiện nay phong trào nuôi cá lóc phát triển khá mạnh ở các tỉnh ĐBSCL, nhất là vào mùa nước nổi. Bà con thường nuôi cá trong ao, trong bể lót bạt nilon hay trong bè.