NT-Kỹ thuật ương, nuôi cá rô phi Từ Điêu Hồng

2018-01-29 16:57:00

Cá rô phi Từ Điêu hồng có nguồn gốc từ Đài Loan . Cá rô phi Từ Điêu hồng là loại rô phi được tạo ra giữa hai dòng rô phi đen và rô phi vằn, vẩy trên thân có màu vàng đậm hoặc nhạt, hay màu đỏ hồng cũng có thể gặp những cá thể màu vàng, màu hồng sen lẫn những vẩy màu đen.. Cá rô phi Từ Điêu hồng là loại cá ăn tạp thiên về thực vật, mùn bã hữu cơ do đó nguồn thức ăn của cá rất đa dạng bao gồm các loại cám, thực phẩm loại, ngũ cốc.

I. Kỹ thuật ương cá giống

1. Điều kiện ao.
- Diện tích ao ương cỡ 200 – 2000 m2.
- Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ, không bị cớm rợp, bờ ao cao hơn nước cao nhất trong năm 50 cm.
- Ao phải giữ được mức nước ổn định từ 0,8 – 1,2 m.
- Đáy ao bằng phẳng, có lớp bùn dày từ 15 – 30 cm, pH = 6,5 – 8.
- Có nguồn nước sạch cung cấp chủ động.
2. Chuẩn bị ao ương.
- Cách từ 7 – 10 ngày trước khi ương cá, ao được bơm cạn, bắt, diệt hết cá tạp còn lại trong ao.
- Dọn cỏ, rác xung quanh ao.
- Sửa chữa bờ ao, lấp hang h?c rò rỉ, hang hốc.
- Vét bùn đáy ao chỉ để lại lớp bùn dày từ 15 – 30 cm.
- San phẳng đáy hơi dốc về phần cống thoát đáy ao.
- Tẩy vôi với lượng 7 kg/100m2
- Phơi đáy ao từ 3 – 5 ngày.
- Bón lót: Dùng phân chuồng hoặc phân bắc ủ mục với liều lượng 20 -25 kg/100m2
- Trước khi thả cá 3 ngày lọc nước vào ao mức nước từ 30 - 40 cm.
- Trước 1 ngày thả cá lọc thêm nước đảm bảo mực nước 70 – 80 cm.
3. Kỹ thuật chăm sóc.
3.1. Mật độ thả, thời gian thả.
- Mật độ thả:  130 – 135 con/m2
- Thời gian thả cá xuống ao trước 10 giờ sáng hoặc chiều mát.
- Chất lượng cá thả: Chọn cá cỡ đồng đều, không bị dị hình, bơi nhanh trong nước.
3.2. Kỹ thuật chăm sóc.
- Sau khi thả cá xuống ao hàng ngày thăm ao 3 lần vào buổi sáng sớm và chiều mát
- Kiểm tra hoạt động của cá, phát hiện địch hại có biện pháp phòng trừ.
- Cho cá ăn: Dùng cám công nghiệp cho ăn với liều lượng:                                     
Tuần 1:    0,3 kg thức ăn/vạn cá/ngày.
Tuần 2:    0,4 kg thức ăn/vạn cá/ngày.
Tuần 3:    0,5 kg thức ăn/vạn cá/ngày.
Tuần 4:    0,7 kg thức ăn/vạn cá/ngày.
Tuần 5: 0,8 kg thức ăn/vạn cá/ngày
Tuần 6: 1kg thức ăn/vạn cá/ngày.
- Định kỳ mỗi tuần thêm nước 1 lần, mỗi lần 20 cm.
- Định kỳ 1 tuần bón phân 2 lần, phân chuồng bón 20-25kg/100m2 hoặc phân vô cơ bón 100g đạm/100m2, 200gam lân/100m2 (bón phân theo màu nước, duy trì mức nước ao màu xanh lá chuối non.
- Bón phân chuồng cho ao, phân phải được ủ mục.
- Định kỳ kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá tháng 1 lần.
3.3. Biện pháp phòng, trừ địch hại.
+ Nếu như ao ương cá xuất hiện bọ gạo , bắp cầy ta dùng dầu hoả để tiêu diệt.
+ Cách diệt: Làm khung có diện tích 2 m2 để dầu hoả vào khung, cho khung di chuyển dần khắp ao, bọ gạo, bắp cầy lên thở dính dầu bị chết nổi dùng vợt vớt lên bờ.
- Nguyên liệu làm khung: Dùng cây tre khô hoặc dóc, đảm bảo nổi lên trên mặt nước. Không để dầu trong khung tràn ra mặt ao.
+ Nếu ao xuất hiện trứng ếch, nhái hoặc nòng nọc.
- Dùng vợt vớt trứng ếch nhái, nòng nọc để lên bờ.
- Trường hợp nòng nọc phát triển nhiều dùng 2 quả trứng gà sống đập ra trộn với 2 kg cám nấu cho 1 sào ao.
- Thả ven bờ góc ao đầu gió nòng nọc gửi thấy mùi tanh của trứng gà tập trung vào ăn. Dùng vợt vớt hoặc dậm vớt hết nòng nọc để lên bờ ao.
- Trong thời gian ương từ tháng 4 đến tháng 5, thường gặp trận mưa đầu mùa, nước mưa mang tính axit cho nên sau khi mưa cần bón vôi cho ao với liều lượng: vôi 2kg/100m2, vôi được hoà loãng thành nước té đều khắp mặt ao.
4. Thu hoạch :
- Sau khi ương cá được từ 7 – 8 tuần, cỡ cá đạt 4 -6 cm. Thỡ có thể thu hoạch cá giống.
- Trước khi thu hoạch từ 3 – 4 ngày, buổi sáng khi cá không nổi đầu tiến hánh đùa luyện cá (có thể dùng trâu, lưới kéo).
- Luyện cá sau 3 ngày có thể thu hoạch
- Rút nước ao còn khoảng 70 – 80 cm, dùng lưới kéo dồn cá. Mọi thao tác đánh bắt nhẹ nhàng, tránh xây sát, bạch vĩ.
- Thời gian thu cá vào buổi sáng, trời mát.
- Sau khi kéo cá 1 –2 mẻ lưới ta tiến hành thu cạn ao
II. Kỹ thuật nuôi cá thịt
1. Điều kiện ao nuôi

- Diện tích ao nuôi từ 1000 – 10 000m,2 tốt nhất từ 1 500 – 5 000 m2, độ sâu 1,5 – 2m.
- Ao không bị cớm rợm (cõy lâu năm che phủ), bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ, chiều cao của bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm là 0,5m.
- Ao có thể tháo nước hoặc bơm nước vào thuận lợi, đáy ao bằng phẳng, lớp bùn đáy khoảng 20 -30 cm.
- Có nguồn nước sạch cung cấp chủ động trong suốt qúa trình nuôi.
- Đáy ao không bị ô nhiễm.
2. Cải tạo ao.
- Trước khi nuôi cá ao phải được tát cạn nước trước 5-7 ngày, tu sửa cống, bờ ao, cống thoát, cống cấp, vét bùn đáy ao.
- Tẩy vôi: Loại vôi dùng để đẩy ao là vôi bột (CaO), vôi tôi (Ca(OH)2) với liều lượng thông thường 7 - 10 kg/100m2, tương đương với 29 – 36 kg/sào Bắc bộ.
- Cách dùng: Giải vôi đều xung quanh bờ ao, mặt đáy ao. Nếu nuôi các loại cá rô phi từ vụ trước cần bón 40 – 50 kg vôi/sào bón tập trung ở đáy ao. Sau khi bón vôi khắp đáy ao, dùng cào, cuốc trộn đều với bùn đáy ao (làm như vậy để diệt trứng, cá con và mầm bệnh từ vụ trước).
- Bón vôi xong phơi nắng khoảng 3 - 5 ngày.
- Bón phân cho ao: Dùng phân chuồng ủ kỹ, lượng 20-25 kg/100m2
- Dùng phân vô cơ kết hợp đạm/lân với tỷ lệ 2/1 tương đương 2 đạm, 1 lân. Đạm, lân phải được hoà tan thành nước bón xuống ao.
- Tháo nước trước 3 ngày thả giống.
3.Mùa vụ thả giống
- Mùa vụ thả giống: Từ tháng 3 đến tháng 6 dương lịch.
- Đối với miền Bắc nước ta do ảnh hưởng mùa rét nên thường thả con giống vào tháng 3 đến tháng 6 dương lịch hàng năm. Nhưng khoảng thời gian thả giống tốt nhất là cuối tháng 4 đầu tháng 5 dương lịch.
- Thời gian thả: Vào sáng sớm hoặc chiều mát.
- Phương pháp thả: Nếu nhiệt độ trong túi cá và nhiệt độ môi trường ao nuôi chênh lệch. Ta ngâm túi cá xuống ao 10 -15 phút, sau đó mở túi cá cho nước ao vào để cá bơi ra ngoài từ từ. Nếu vận chuyển gần khi thả cá phải dìm dụng cụ vận chuyển xuống nước để cho cá bơi ra tránh đổ mạnh làm cá sục bùn.
- Mật độ thả: Đối với mô hình nuôi bán thâm canh, mật độ thả 3 con/m2.
- Cỡ cá thả: 4 - 6 cm.
4. Quản lý, chăm sóc.
- Để đảm bảo nuôi cá rôi phi Từ Điêu hồng thương phẩm đạt chỉ tiêu về an toàn vệ sinh thực phẩm. Chúng ta dùng thức ăn chế biến có hàm lượng đạm đảm bảo yêu cầu đề ra. Có thể sử dụng thức ăn tự chế biến hoặc mua thức ăn viên nổi bán sẵn trên thị trường.
- Phương pháp cho ăn: Ngày cho ăn 3 lần: Sáng từ 8 – 9h, chiều 4 -5h        (thực hiện 4 định: định lượng, định chất, định vị trí, định giờ).
- Định lượng thức ăn cho cá ăn hàng ngày và lượng phân bón được tính theo bảng sau:

Bảng 1: Lượng thức ăn tính theo trọng lượng cá trong ao/ngày

- Cứ 10 ngàycân mẫu cá 1 lần để xác định kích cỡ trung bình, tính trọng lượng cá trong ao, để xác định lượng thức ăn cho ăn hàng ngày bằng cách cân và lấy trung bình khối lượng của 30 cá thể. (Định kỳ kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá 1 tháng 1 – 2 lần. Cân trọng lượng và đo chiều dài của 30 cá thể)

* Chú ý: Nếu nước ao nuôi luôn duy trì màu xanh lá chuối non thì ngừng bón phân.
- Để mô hình nuôi đạt hiệu quả cao, các gia đình có thể tự chế biến thức ăn cho cá bằng nguồn khác nhau. Bằng cách này sẽ làm giảm chi phí sản xuất .
- Thức ăn sau khi phối trộn có thể dùng máy đùn thành viên hoặc nấu chín cho cá ăn theo lượng đã định ở bảng.
- Quản lý ao: Thường xuyên thăm ao vào buổi sáng, chiều hàng ngày theo dõi hoạt động của cá. Kiểm tra bờ ao, xem có bị rò rỉ không, cống đăng chắn có chắc chắn không.
- Định kỳ thay nước ao tháng 2 lần, mỗi lần thay khoảng 25 – 30% lượng nước trong ao, khi thay nước dùng máy bơm bơm nước ở tầng đáy.
- Thay nước đột xuất: Khi môi trường nuôi bị ô nhiễm, nước đặc màu, có mùi tanh, hôi hoặc hàng ngày cho cá ăn cá ăn kém thì tiến hành thay nước, tùy theo mức độ ô nhiễm mà lượng nước thay có khác nhau.
- Định kỳ 1- 2 tuần cấp nước 1 lần, lượng nước từ 30 -50 cm, đảm bảo nước trong ao từ 1,5 – 2 m.
- Những ngày thời tiết thay đổi (t0 cao, to thấp) cá thường kém ăn nên giảm lượng thức ăn đỡ lãng phí.
- Cá đang nổi đầu, không nên cho cá ăn mà chờ khi cá hết nổi mới cho cá ăn.
- Nếu cho cá ăn thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, sau khi cho ăn từ 1 -2h, cá ăn không hết thì vớt hết thức ăn trên mặt ao.
- Định kỳ bón vôi xuống ao (15 ngày/lần) lượng vôi: 2 kg/ 100m2 ( trường hợp trong thời nuôi trời mưa thì sau trận mưa cần bón vôi ngay để xử lý môi trường nước, ổn định pH).
- Sau khi nuôi cá được 3 tháng, hàng ngày sử dụng máy sục khí cho ao để tăng hàm lượng ôxy hoà tan cho ao nuôi.
- Sau khi nuôi được 3 tháng trở đi cá thường hay mắc bệnh xuất huyết, viên ruột ta có thể dùng:
+ Thuốc KN04 – 12 của Viện Nghiên cứu nuôI trồng Thủy sản I trộn vào thức ăn với lượng từ 2 – 4gam/kg cá, cho ăn trong 3 ngày liên tục để phòng bệnh.
+ Sử dụng Aqua- cleanese –No1, (với liều lượng: 0,2g/m3 nước),Vạn tiêu linh để sử lý môi trường (liều lượng: 1g/m3 nước )
5. Thu hoạch
- Sau khi nuôi cá được 5 – 7 tháng, cá đạt cỡ từ 500 -700 gam ta có thể xuất bán.
- Trước khi đánh bắt ta phải ngừng cho ăn thức ăn tinh từ 1 -2 ngày.
- Tháo vợi nước ao, kéo lưới từ 2 đến 3 mẻ, sau đó bơm cạn để thu hết cá.

Theo haiduongdost.gov.vn


Xem thêm




NT-Nguyên nhân gây dị tật xương cá

Dị tật xương không những ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tăng trưởng của cá mà còn làm giảm giá trị kinh tế. Vậy tại sao cá lại bị dị tật xương?









Cộng Ngay 10.000 Cho 100% Khách Hàng
Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia