SB-Quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa

2018-08-07 09:43:38

Bộ Nông nghiệp và PTNT vừa công nhận "Quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của rầy nâu Nilaparvata lugens (Stal), rầy lưng trắng Sogatella furcifera (Horvath) hại lúa" là tiến bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp và PTNT (mã hiệu: TBKT 01-88: 2018/BNNPTNT) theo Quyết định số 1757/QĐ-BVTV-KH ngày 28/6/2018.

Lúa bị cháy rầy

Sau đây xin gửi đến quý bạn đọc nội dung tiến bộ kỹ thuật:

Quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu Nilaparvata lugens (Stal), rầy lưng trắng Sogatella furcifera (Horvath) hại cây lúa dựa trên nguyên tắc áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng họp (IPM) trên cây lúa cụ thể như sau:

1. Biện pháp canh tác

- Vệ sinh đồng ruộng: Làm sạch cỏ ven bờ ruộng và ở mương/máng dẫn nước tưới; tiêu hủy nhổ bỏ lúa chét, cỏ lồng vực, cỏ đuôi phụng, cỏ chác, lúa cỏ,....

- Làm đất: Đất ruộng phải được cày, bừa kỹ, san phẳng mặt ruộng trước khi gieo, cấy.

- Giống: Sử dụng các giống lúa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, trong danh mục được phép sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Ưu tiên các giống lúa có khả năng kháng/chống chịu rầy nâu, rầy lưng trắng.

- Phân bón: Phụ thuộc vào giống lúa, loại đất và giai đoạn sinh trưởng cây trồng. Không bón thừa đạm (dùng bảng so màu lá lúa để điều chỉnh bón đủ lượng phân đạm). Không nên bón phân đạm quá cao trên 150 kg N/ha.

- Tưới nước: Quản lý nước theo quy trình tưới nước tiết kiệm.

- Thời vụ: Tuân thủ thời vụ theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn. Sử dụng bẫy đèn để dự báo thời điểm trưởng thành rầy vũ hóa rộ nhằm xác định thời điểm gieo, cấy lúa tập trung để né rầy.

2. Biện pháp sinh học

Bảo vệ kẻ thù tự nhiên (KTTN): Không sử dụng thuốc hóa học khi chưa cần thiết, trên bờ ruộng lúa nên trồng cây hoa có mật để thu hút, bảo vệ KTTN như bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis,nhện sói vân đinh ba Lycosa pseudoannulata,nhện linh miêu Oxyopes javanus,nhện lùn Atypena formosana,bọ xít nước, ong ký sinh trứng rầy,...

3. Biện pháp hóa học

- Thời điểm phòng trừ:

Điều tra định kỳ diễn biến mật độ rầy nâu, rầy lưng trắng để xác định thời điểm phòng trừ (điều tra 7 ngày/lần). Chú ý giai đoạn trước trỗ, nếu mật độ rầy đạt ngưỡng 1.000 con/m2 trở lên và giai đoạn sau trỗ mật độ rầy đạt ngưỡng 2.000 con/m2 trở lên thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ. Ngưỡng mật độ này được áp dụng trong phòng trừ khi rầy cám là phổ biến (tuổi 1-3).

Trong điều kiện bình thường, tập trung phòng trừ rầy ở giai đoạn lúa đòng già, trỗ và chắc xanh, đỏ đuôi.

Trong trường hợp bệnh vàng lùn lùn xoắn lá, lùn sọc đen có nguy cơ bùng phát mới cần phòng trừ rầy trên mạ, lúa giai đoạn trước làm đòng.

- Loại thuốc sử dụng:

Sử dụng các thuốc trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép dùng trên lúa. Ưu tiên các thuốc mà rầy nâu, rầy lưng trắng chưa biểu hiện tính kháng (Ri < 10; RR<3). Những thuốc hóa học mà rầy nâu, rầy lưng trắng đã biểu hiện tính kháng (Ri>10; RR>3) phải luân phiên với thuốc khác nhóm.

Cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Sử dụng luân phiên 1 trong các hoạt chất theo các công thức luân phiên sau:

Sulfoxaflor - Dinotefuran - Pymetrozine

Pymetrozine - Sulfoxaflor - Dinotefuran

Điều tiết sinh trưởng côn trùng - Dinotefuran - Sulfoxaflor

Nitenpyram - thuốc điều tiết sinh trưởng côn trùng - Sulfoxaflor

Emamectin benzoate - Dinotefuran - Sulfoxaflor

Hạn chế sử dụng thuốc thuộc các nhóm hoạt chất Imidacloprid, Fenobucarb, Fipronil và các thuốc có từ trên 2 hoạt chất.

Mỗi loại thuốc chỉ nên sử dụng 01 lần/01 vụ và tối đa không quá 3 vụ liên tục, sau đó phải chuyển sang sử dụng loại thuốc khác.

Khi lúa ở giai đoạn trước trỗ (đầu vụ) có thể sử dụng thuốc có cơ chế nội hấp. Lưu dẫn, gây ngán ăn, điều hoà sinh trưởng côn trùng (Pymetrozine, Buprofezin, Emamectin benzoate, Flonicamid, Sulfoxaflor,...). Khi lúa ở giai đoạn trỗ - chín (cuối vụ) cần sử dụng thuốc có cơ chế tác dụng tiếp xúc (Sulfoxaflor, Dinotefuran, Nitenpyram,...).

- Liều lượng, nồng độ:

Theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Phải phun đủ lượng nước thuốc quy định (400 - 600 lít/ha).

- Kỹ thuật phun thuốc:

Khi lúa tốt, trước khi phun rẽ lúa tạo các băng để có thể phun sát phần gốc của cây lúa nơi rầy cư trú và dâng nước cao 3-5 cm để tăng hiệu quả phòng trừ (nếu chủ động được nước). Sử dụng các loại bình bơm đạt tiêu chuẩn.

Sau phun thuốc 3 -7 ngày cần kiểm tra ruộng nếu mật độ rầy vẫn còn tăng lên cao thì phải phun lại mới đạt yêu cầu.

BBT

Theo khuyennongvn.gov.vn

Xem thêm


SB-Bệnh khô vằn hại lúa

Trong các bệnh nấm hại lúa hiện nay ở nước ta bệnh khô vằn được xếp vào bệnh nghiêm trọng thứ hai sau bệnh đạo ôn và là loại bệnh gây hại chủ yếu trên lúa...


CS-Giống lúa chịu hạn DH39

Giống lúa DH 39 Năng suất trung bình đạt 60 - 65 tạ/ha trong điều kiện nước tưới bấp bênh. Giống có khả năng chịu hạn tốt. Nhiễm trung bình với bệnh đạo ôn...




CS-Kỹ thuật canh tác lúa Nhật Japonica

Giống lúa Nihonmai có chiều cao cây 95-115cm, thân mềm, lá dày, tán gọn, đẻ khá nhanh, bông vừa hạt to, có mầu nâu sáng, hạt gạo trong, cơm dẻo thơm, vị đậm.



SB-Bệnh lem lép hạt lúa

Lem lép hạt là thuật ngữ chung để chỉ triệu chứng hạt lúa bị lép, lửng không cho năng suất. Biểu hiện 3 dạng là lép trắng, lép xanh và lép đen.



SB-Bệnh đạo ôn hại lúa

Trong những năm gần đây, bệnh đạo ôn đã gây hại hầu hết các vụ lúa trong năm, nhất là các tỉnh phía Nam, gây khó khăn cho SX và làm tăng thêm chi phí phòng trừ.