SB-Sâu bệnh hại ca cao và biện pháp phòng trừ

2018-03-27 15:54:47

I. SÂU HẠI

1. Bọ xít muỗi (Helopeltisssp)

1.1. Đặc điểm hình thái

Trưởng thành giống như con muỗi lớn, có màu xanh lá mạ; đầu, râu màu nâu, con non có màu vàng đồng nhất, có nhiều lông tơ.

1.2. Tập quán sinh sống và gây hại

Bọ xít muỗi hoạt động vào sáng sớm hoặc chiều tối, buổi trưa trời nắng ít hoạt động ẩn nấp trong tán lá. Hoạt động mạnh sau cơn mưa trời vừa hửng nắng, trời âm u hoạt động cả ngày. Thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều (nhiệt độ  20 – 29OC, ẩm độ trên 90%) và ca cao trồng trong bóng rợp thích hợp cho bọ xít muỗi phát triển.

Bọ xít muỗi dùng vòi chích hút nhựa chồi non, cành non, cuống hoa và trái. Vết chích lúc đầu có màu xám chì xung quanh màu nhạt sau đó dần dần vết chích bị thâm đen, các bộ phận non bị chích thường héo khô đen, trái bị chích có nhiều vết thâm và phát triển dị dạng.

Bọ xít muỗi non gây hại nhiều hơn bọ xít muỗi trưởng thành vì chúng ít di chuyển, tập trung trên từng cây hoặc từng vùng nhỏ nên hiện tượng gây hại không rải đều trong vườn. Thiệt hại do bọ xít muỗi không những hạn chế sinh trưởng cây mà còn làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm.

1.3. Biện pháp phòng trừ   

Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, tỉa cành để vườn thông thoáng tạo môi trường bất lợi cho bọ xít muỗi.

Có thể sử dụng thuốc Lambda-cyhalothrin+Thiamethoxam (Alika 247ZC); Beta cyfluthrin+ Chlorpyrifos Ethyl(Bull Star  262.5 EC) hoặc có thể tham khảo sử dụng  thuốc có hoạt chất: Chlorpyrifos Ethyl, Cypermethrin; Deltamethrin phun phòng trừ.  Phun thuốc vào sáng sớm lúc bọ xít muỗi tập trung gây hại.        

2. Rầy mềm (Toxoptera citricida)

2.1. Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại

- Rầy trưởng thành: Có màu đen hoặc hơi đỏ.  Rầy non: Có màu hơi nâu, xanh, trắng.  Rầy trưởng thành và rầy non sống tập trung ở các bộ phận non của cây như: chồi non, lá non, nụ hoa, đài hoa, trái non làm cây chậm phát triển, chùm hoa khô rụng, héo trái.

- Rầy thường xuất hiện nhiều vào mùa khô, nắng nóng, trong trường hợp mưa to rầy cũng bị rửa trôi và bị chết nhiều. Khi mật số rầy cao, chúng di chuyển tìm nơi sinh sống mới.

2.2. Biện pháp phòng trừ   

- Thăm vườn thường xuyên để phát hiện sớm rầy mềm. Dùng vòi nước phun trực tiếp vào chỗ rầy bám, có tác dụng rửa trôi bớt và tạo độ ẩm để giảm mật số rầy trong mùa nắng. Hoặc dùng tay diệt rầy mềm khi mới xuất hiện ở mật số thấp.

- Biện pháp hóa học: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký phòng trừ rầy mềm hại ca cao. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất như: Deltamethrin, Permethrin, AcetamipridBeta - cyfluthrin + Chlorpyrifos Ethyl để phòng trừ

3. Rệp sáp (Planococcus citri)

3.1. Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại

Rệp trưởng thành: Rệp cái có nhiều tua sáp, màu trắng. Rệp đực có màu xám nhạt.  Rệp non: Màu hồng, hình bầu dục, chưa có tua sáp sáp.           

- Rệp bám tập trung ở các bộ phận non như: Đọt non, cuống lá, cuống trái, thân và trái non. Đôi khi thấy rệp ở các bộ phận dưới mặt đất (cổ rễ, rễ…). Khi sinh sản nhiều rệp bám thành lớp dày đặc trắng như bông.

- Rệp chích hút nhựa cây làm cây chậm phát triển, quả nhỏ, nhưng không đáng ngại như ở thời kỳ kiến thiết cơ bản (nhất là năm trồng mới) làm các cành biến dạng, cây lệch tán.

- Rệp sáp thường xuất hiện nhiều trong mùa nắng, sinh sản rất nhanh, rệp non di chuyển tìm nơi sống thích hợp, sau 2-3 ngày thì cố định nơi sống.

3.2. Biện pháp phòng trừ

Phun kỹ những ổ rệp sáp mới hình thành, phun phòng trừ triệt để để tránh lây lan. Có thể phòng trừ rệp sáp bằng cách phun các loại thuốc như:

Acetamiprid (Melycit 20SP)

Beta - cyfluthrin + Chlorpyrifos Ethyl (Bull Star  262.5 EC)

Fipronil + Imidacloprid (Sunato 800WG)

4. Sâu hồng (Zeuzera coffeara)

4.1. Đặc điểm hình thái

Khi cành bị hại, lá rũ xuống và khô đi, cành dễ gãy ngang nơi bị sâu phá, tại miệng lỗ sâu đục có nhiều mọt gỗ rơi ra và khi chiếu thẳng từ lỗ đục này xuống đất cũng thấy mọt rơi trên mặt đất.

Sâu thường phá hại thân, các cành tăm, cành cấp 1, cấp 2. Sâu có thể phá hại từ cành này sang cành khác, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây thậm chí gây chết cây.

4.2. Tập quán sinh sống và gây hại

Suốt vòng đời của sâu đục vào thân, cành cây và sống bên trong đó, đến khi trưởng thành bay ra ngoài  tìm những nơi cành lá xanh tốt xum xuê  để đẻ trứng, trứng được đẻ thành từng ổ ở các chồi non, hoặc nụ của cành. Khi sâu nở ra tấn công vào những cành non này, sâu lớn tuổi có khả năng đục phá thân cành cây hoá gỗ.

Sâu thích hợp ở nhiệt độ 20-28O C, dưới 18OC sâu phát triển chậm, sâu ưa ẩm độ tương đối cao (hơn 85%), trong vườn nơi nào rậm rạp, có độ che bóng dày, kín, tỉ lệ cắt tỉa ít không thường xuyên sẽ bị hại nặng hơn.

4.3. Biện pháp phòng trừ

- Thường xuyên thăm vườn, phát hiện kịp thời và tiêu diệt để làm giảm mật độ sâu hồng gây hại

- Biện pháp hóa học: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu hồng hại ca cao. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất: Diazinon, Chlorpyrifos Methyl, Chlorpyrifos Ethyl+Cypermethrin.

5. Mối

5.1. Triệu chứng  gây hại

Mối cắn chủ yếu các bộ phận dưới đất như rễ làm hạn chế sự hút nước và dinh dưỡng của cây, làm cho cây héo và chết, cắn đứt ngang thân gần mặt đất làm cây chết ngay.

Mối là một trong những côn trùng chính phá hại ca cao trong thời kỳ kiến thiết cơ bản (từ khi trồng đến 3 năm tuổi), nhất là ở các vùng đất mới khai phá, gần rừng, trong vườn điều hoặc vườn cây lâu năm khác. Là đối tượng gây hại nguy hiểm vì có thể gây chết cây hàng loạt.

5.2. Tập quán sinh sống và gây hại

Mối là loại côn trùng miệng nhai, thức ăn chủ yếu là xác thực vật hoai mục và bán hoai mục như thân, lá cây khô, rễ cây…. Chúng sống thành tập đoàn, làm tổ và sinh sản rất nhanh.

Mối thường gây hại cây từ một đến 03 năm đầu (cây mới trồng và cây còn non).  Mối phá hại cây trồng không chỉ để lấy thức ăn mà chủ yếu là để lấy nước, nên trong mùa khô độ ẩm mặt đất giảm, mạch nước ngầm rút sâu, chỉ có cây tươi (rễ) là đáp ứng được cả hai nhu cầu sống của mối: Đó là thức ăn và nước. Do vậy, trong thời kỳ này cây thường bị mối tấn công gây  hại .

Thời điểm mối gây hại nặng nhất là sau khi trồng.

5.3. Biện pháp phòng trừ

- Không lấp rác, cỏ tươi xuống hố trồng, tủ rác giữ ẩm phải xa gốc ca cao

- Biện pháp hóa học: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký phòng trừ mối hại ca cao. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất: Alpha – cypermethrin;  Alpha - cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl; Chlorpyrifos Ethyl để trừ mối

6. Bọ cánh cứng hại lá (Adoretus spp vàApogonia spp.)

6.1. Triệu chứng và tác hại

Triệu chứng: trên lá già, lá bánh tẻ (lá chuyển sang màu xanh) bị cắn mất phần thịt lá, để  lại các lỗ thủng khắp mặt lá, gân lá (chính và phụ) vẫn còn.

Tác hại: Bọ cánh cứng có thể cắn phá các đợt  lá trên cây, giảm khả năng quang hợp làm cây con  chậm phát  triển.

6.2. Tập quán sinh sống và gây hại

Trưởng thành sống ẩn nấp dưới các đống lá cây cỏ mục và ẩm trong vườn, khi phát hiện chúng giả chết.

Thời gian hoạt động: Vào lúc chiều tối và sáng sớm

Cách di chuyển: Bay ngang, bám vào vật cản trên đường chúng di chuyển.

6.3. Biện pháp phòng trừ

- Dùng vợt lưới để bắt bọ cánh cứng vào lúc trời tối hoặc làm bẫy đèn dẫn dụ để diệt tập trung.

- Hiện tại chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ bọ cánh cứng hại ca cao. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất: Chlorpyrifos Ethyl+Permethrin; Metarhirium anisopliae Sorok, Beauveria+Metarhizium+ Entomophthorales , Thiamethoxam để phòng trừ.   Phun vào chiều mát.

7. Sâu đục trái ca cao (Conopomorpha cramerella)

7.1. Đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu đục trái

- Trứng  đẻ đơn lẻ từng quả ở  bất cứ vị trí  nào trên bề mặt vỏ quả, trứng mới đẻ màu vàng cam, hình bầu dục chiều dài không quá 0,5 cm. Khi sắp nở, trứng chuyển sang màu trắng đục, vỏ màu trắng  bên trong có màu đen.

- Sâu non tuổi 1 thường có màu trắng và dài khoảng 1mm,  thường đục thành các đường hầm vuông góc với chiều dài của quả và xuyên qua lớp vỏ thóc cho đến khi chạm tới lớp xơ cứng của vỏ, hoặc đục thành các đường hầm dọc theo chiều dài quả.

Bên trong vỏ, các đường đục trở nên ngoằn nghèo. Phần lớn sâu non được phát hiện từ vỏ quả ca cao khi quả bước vào giai đoạn chín. Sâu non tuổi cuối thường có màu xanh lá cây, dài khoảng 12mm. Sâu non sau khi chui ra khỏi đường hầm thường để lại một lỗ nhỏ có đường kính khoảng 1mm.

- Nhộng hình thành ở bên ngoài lớp vỏ, ấu trùng đẫy sức bò đến một vị trí thích hợp để hóa nhộng. Nhộng thường xuất hiện ở các rãnh của vỏ quả hoặc trên các lá còn xanh hoặc lá đã khô và các tàn dư khác.

- Trưởng thành dài khoảng 7mm, chiều dài sải cánh 12 mm, toàn thân màu nâu nhạt, râu và chân rất dài, cánh trước có hình lá liễu thon dài có những vân trắng, cánh sau hình dùi, rìa cánh mang nhiều lông tơ.

Trưởng thành, giao phối, đẻ trứng và hoạt động mạnh nhất vào ban đêm. Một trưởng thành cái có thể đẻ từ 50-100 trứng trong một vòng đời.

Ban ngày trưởng thành thường ở trên các nhánh của cây ca cao. Màu sắc của trưởng thành thường giống với vỏ thân cây nên rất khó phát hiện..

7.2. Tập quán sinh sống và gây hại

Sâu đục trái thường đục thành các đường hầm trên vỏ quả. Sâu non mới nở sống bằng dịch trong cơ thể hoặc ăn lớp bột ở trong vỏ quả cho đến khi phát triển đầy đủ. Đường đục của sâu non dài từ 4-5cm trên vỏ quả, sau khi đục sâu vào bên trong, sâu non ăn lớp chất nhầy trong thịt quả do đó ảnh hưởng đến sự phát triển của quả và làm quả bị biến dạng.

Vỏ quả bị sâu đục trái tấn công thường có màu sắc không đều, chín ép nên có chỗ vàng, chỗ xanh.

7.3. Biện pháp phòng trừ

- Biện pháp canh tác

+ Cần thu hoạch trái triệt để, để loại bỏ tất cả các tàn dư mà sâu đục trái đã tấn công ra khỏi khu vực canh tác ca cao từ đó phá vỡ chu kỳ gây hại của chúng.

+ Dùng túi nilon để bao trái hạn chế trưởng thành sâu đục trái đẻ trứng trên vỏ quả đồng thời bảo vệ trái khỏi sự tấn công của các loài sâu hại khác. Túi được cắt đáy để thông gió và sẽ được giữ trong suốt thời gian sinh trưởng của quả cho đến lúc thu hoạch.

+ Bón phân đầy đủ, cân đối để cây luôn khỏe mạnh, trái to và giúp vỏ trái cứng làm giới hạn sự xâm nhập của sâu.

Biện pháp hóa học: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu đục trái ca cao. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất: Chlorpyrifos Methyl, Cypermethrin.   

8. Sùng hại rễ

8.1. Đặc điểm hình thái

Sâu non màu trắng ngà, thân có nhiều lông nhỏ rải rác, uốn cong hình chữ C, đẫy sức dài 12-13 mm.

8.2. Tập tính sống và gây hại

Xem thêm



TH-Thu hoạch và sơ chế ca cao

Khi cây trồng được khoảng 2 năm rưỡi thì có thể cho trái, nhưng thông thường từ 3 - 4 năm, trái sau khoảng 6 tháng kể từ ngày thụ tinh thì chín...



CS-Kỹ thuật trồng và chăm sóc ca cao

Ca cao có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ bazan, đất ferralit vàng phát triển trên đá trầm tích, đất tro núi lửa, đất cát...