Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Thợ mộc yêu tranh thờ và gốm cổ

Email In PDF.

Có xưởng làm khung tranh, nhưng lại mê sưu tầm tranh thờ và gốm cổ, trong tương lai Phạm Đức Sĩ dự định gác công việc "thợ mộc" lại để chuyên tâm hơn vào việc "đi tìm" lại quá khứ.

Thích thì chơi!

Đọc thêm...
 

Hà Giang: Đánh giá kết quả công tác bảo tồn và phát triển giống bò vàng địa phương

Email In PDF.
Bò Vàng (còn được gọi là bò Mèo, bò Hmông) được đồng bào dân tộc Mông nuôi dưỡng từ lâu đời tại các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, tập chung chủ yếu tại 4 huyện vùng cao núi đá phía bắc là Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ.
Đọc thêm...
 

Quảng Nam: Thành công của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao có độ mặn thấp

Email In PDF.
Trong những năm gần đây, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (Panaeus vannamei) phát triển khá mạnh tại Quảng Nam. Tuy nhiên, việc phát triển nuôi tôm chân trắng tự phát trên các vùng đất cát ven biển cũng như gia tăng mật độ và năng suất nuôi lên cao ở các địa phương sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và phát sinh dịch bệnh cao trong thời gian đến.
Đọc thêm...
 

Tuổi cao vẫn sản xuất, kinh doanh giỏi

Email In PDF.

Sau gần 4 năm tôi mới có dịp gặp lại ông Nguyễn Thế Dục, cựu TNXP chống Pháp, gia đình sản xuất giỏi ở xã Yên Hùng, huyện Yên Định. Năm nay ông đã 77 tuổi nhưng vẫn say mê với nghề nuôi cá và trồng cây cảnh. Cảm nhận đầu tiên của tôi là thấy ông rất rắn rỏi, nhanh nhẹn, da dẻ hồng hào, khỏe mạnh. Đặc biệt, ai cũng khen ông là người hay lam, hay làm, chịu thương, chịu khó.

Đọc thêm...
 

Hà Tĩnh: Thành công nuôi cá chẽm thương phẩm

Email In PDF.

Hà Tĩnh: Thành công nuôi cá chẽm thương phẩm

Năm 2009, được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia, Trung tâm KN-KN Hà Tĩnh xây dựng mô hình nuôi cá chẽm tại xã Thạch Bằng (Lộc Hà), với diện tích 1,3 ha, thả 19.500 con cá được hỗ trợ 40% giá giống, 20% thức ăn, thuốc... ngoài ra các hộ tham gia mô hình được tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật.

Sau 5 tháng triển khai mô hình cho thấy, đây là giống cá dễ nuôi, có sức chống chịu cao trong môi trường nước lợ ở ao đất, tỷ lệ nuôi sống đạt trên 75% (đạt và vượt chỉ tiêu mô hình đề ra), năng suất đạt trên 8,5 tấn/ha. Theo tính toán của ông Trần Văn Đức - hộ tham gia mô hình, với giá bán sỉ cho thương lái từ 80-85 ngàn đồng/kg, sau khi trừ chi phí (giống, thức ăn, hóa chất, công chăm sóc...) còn cho thu lãi trên 130 triệu đồng/ha/vụ. Được biết, trên vùng đất này mỗi năm chỉ nuôi tôm thẻ chân trắng hoặc tôm sú được 1 vụ (vụ xuân – hè), còn vụ thu đông ao hồ chỉ bỏ hoang.


Sự thành công của mô hình không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích mà còn giúp người dân lựa chọn được đối tượng nuôi mới, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và đặc biệt thay đổi tập quán sản xuất, góp phần đưa diện tích nuôi trồng vụ thu đông ở Hà Tĩnh ngày càng tăng.


Để từng bước nhân rộng mô hình, mới đây Trung tâm KN-KN Hà Tĩnh đã phối hợp với UBND huyện Lộc Hà tổ chức tham quan, hội thảo, tại đây các đại biểu đã được các hộ nông dân tham gia mô hình giới thiệu những kinh nghiệm về cải tạo ao, hồ, chọn giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, môi trường nước, vệ sinh... từ đó đã giúp cho các đại biểu và bà con nắm bắt được những quy trình kỹ thuật mới để áp dụng vào chỉ đạo, sản xuất và nhân rộng mô hình này trong thời gian tới đạt kết quả cao.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-10)

 

Halicus - Cây trồng mới của nông dân Lương Sơn

Email In PDF.

Thực hiện mô hình xen canh trong vườn cây lâu năm nhằm tận dụng đất đai, bà con nông dân ở một số xã thuộc huyện Lương Sơn (Hòa Bình) đã trồng thành công cây halicus (còn gọi là cây chè đỏ hoặc cây quả đỏ), góp phần nâng cao thu nhập.

Dẫn chúng tôi tham quan mô hình trồng xen halicus trong vườn cây lâu năm, ông Phạm Xuân Lộc ở đội 2, Nông trường Cửu Long cho biết, đây là vụ thứ hai gia đình ông trồng giống cây này, vụ trước do mới làm nên gia đình chỉ tận dụng khoảng đất trống giữa các luống chè và cây ăn quả. Đến kỳ thu hoạch, cây cho trái rất sai, thương lái tìm đến mua tận nhà với giá 9.000 - 10.000 đồng/kg. Vụ đó gia đình ông bán được 2 tấn quả halicus, thu về 20 triệu đồng.


Ông tâm sự: “Trước đây gia đình tôi chỉ trồng xen sắn, lạc với cây ăn quả nhưng hiệu quả kinh tế không cao, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ. Năm nay, tôi quyết định chuyển toàn bộ diện tích 1ha sang trồng halicus”.


Ông Lộc ước tính, gia đình ông sẽ thu hoạch được khoảng 4 - 5 tấn halicus/ha, giá bán bình quân 9.000 - 10.000 đồng/kg, mỗi vụ thu lãi 40 - 50 triệu đồng. “Đây là giống cây dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, đem lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đất đồi, có thể xen canh với các loại cây trồng khác”, ông Lộc cho biết thêm.


Thấy rõ hiệu quả kinh tế từ loại cây trồng này, bà con nông dân một số xã như Nhuận Trạch, Tân Vinh đã mạnh dạn lấy giống halicus về trồng và cũng cho kết quả khả quan. Sản phẩm làm ra đến đâu đều được thương lái tìm đến tận nhà thu gom và bao tiêu toàn bộ.


Cây halicus được trồng từ tháng 4 - 5 hàng năm, đến tháng 10 - 11 bắt đầu cho thu hoạch. Quả của loại cây này được chế biến thành các loại xi rô, nước giải khát hoặc bánh, mứt, kẹo...


Mô hình trồng xen halicus trong vườn cây lâu năm trên địa bàn một số xã thuộc huyện Lương Sơn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với các loại rau màu khác, góp phần cải thiện đời sống cho người nông dân nên có thể triển khai nhân rộng. Tuy nhiên, ngành chức năng cần khuyến cáo bà con không nên phát triển diện tích quá ồ ạt, dễ dẫn đến tình trạng “khủng hoảng thừa”, gây hậu quả nghiêm trọng.

Kinh tế nông thôn
(2009-11-10)

 

HLV và TT Thanh Hóa: Nhân rộng mô hình nuôi ong lấy mật

Email In PDF.

Nuôi ong lấy mật đang là nghề thu hút khá đông hội viên Hội Làm vườn và Trang trại (HLV & TT) tỉnh Thanh Hóa bởi vốn đầu tư không nhiều, hiệu quả kinh tế cao. Chính vì vậy, HLV & TT Thanh Hóa đã có nhiều chủ trương giúp hội viên, nông dân phát triển đàn ong mật.

Nhiều cơ hội phát triển


Mấy năm gần đây, nhiều nông dân xứ Thanh chọn nghề nuôi ong lấy mật để xóa nghèo làm giàu. Hiện, số gia đình có khoảng 50 đàn ong nhiều không đếm xuể, thậm chí, có gia đình nuôi tới 500 đàn. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, mỗi đàn ong có thể cho khai thác 10 – 15kg mật và nhân giống thành 2 - 3 đàn/năm. ông Lưu Văn Tỉnh ở xã Thành Kim (Thạch Thành) cho biết: “Tôi xây dựng trang trại theo mô hình vườn rừng từ năm 1994 nhưng đến năm 2003 mới học được cách nuôi khoa học. Ban đầu gia đình tôi chỉ nuôi một vài đàn, sau đó nhân lên 30 đàn. Thấy nghề nuôi ong mang lại hiệu quả kinh tế cao, không mất nhiều công chăm sóc nên tôi phát triển lên 60 đàn. Hiện, mỗi năm tôi thu 600 chai mật, lãi khoảng 50 triệu đồng”.


Ông Nguyễn Đức Nhuận ở xã Thạch Sơn (Thạch Thành) mỗi năm cũng có thu nhập trên 70 triệu đồng từ 120 đàn ong. Ông Nhuận tâm sự: “Làm trang trại đồi rừng kết hợp với nuôi ong lấy mật rất tiện lợi và kinh tế vì có thể khai thác được nguồn nguyên liệu tự nhiên của hoa rừng. Gia đình tôi đang tiếp tục nhân đàn ong để nâng cao thu nhập hơn nữa”.


Có thể nói, trong cả nước, ít địa phương nào có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi ong như Thanh Hóa. Với diện tích đất rộng, trong đó 3/4 là rừng núi, thảm thực vật đa dạng, bốn mùa cây cối xanh tươi, nguồn hoa phong phú đã trở thành nguồn thức ăn dồi dào cho đàn ong. Thấy rõ được, lợi thế đó, nhiều năm qua các tổ chức, cá nhân luôn quan tâm phát triển nghề nuôi ong lấy mật. Bên cạnh đó, việc nuôi ong không ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên mà loài ong còn thực hiện vai trò thụ phấn chéo cho các loại cây trồng, góp phần tăng năng suất, chất lượng mùa màng, bảo vệ tính đa dạng sinh học của các loài thực vật. Cũng vì thế, ở Thanh Hóa hiện nay, nghề nuôi ong lấy mật kết hợp với mô hình trang trại đồi rừng đang phát triển khá mạnh.


Điều đáng mừng là các sản phẩm thu được từ nghề nuôi ong hiện tiêu thụ tương đối thuận lợi nên đời sống của bà con được nâng lên rõ rệt. Ngoài ra, Việt Nam hiện là nước đứng thứ nhì châu á về xuất khẩu mật ong nên sản phẩm mật ong ngày càng mở rộng thị trường, tạo ra cơ hội mới cho nông dân.


Để nghề nuôi ong phát triển bền vững


Qua khảo sát, tại 10/27 huyện, thị trong tỉnh Thanh Hóa có tới 15.600 đàn ong. Trong đó, huyện Thạch Thành có số đàn ong nhiều nhất với 4.680 đàn, bình quân 4,7 đàn/hộ; các xã có nghề nuôi ong phát triển gồm Thành Kim 800 đàn, Thành Tâm 670 đàn, Thành Yên 500 đàn. Các huyện khác cũng đang tích cực nhân rộng đàn ong như: Cẩm Thuỷ 3.400 đàn; Thọ Xuân 3.000 đàn; thị xã Bỉm Sơn 1.000 đàn...


Nhờ nuôi ong, nhiều gia đình đã thoát nghèo, trở nên giàu có. Tiêu biểu như ông Phạm Đắc Hà ở thị trấn Cẩm Thuỷ có 500 đàn ong, sau hai năm nuôi ong, gia đình đã xây được ngôi nhà 3 tầng khang trang, mua sắm được nhiều tiện nghi sinh hoạt; ông Lê Bá Vượng ở trang trại Sao Vàng, huyện Thọ Xuân có 500 đàn ong, ông di chuyển khắp các tỉnh Nghệ An, Ninh Bình cho ong hút mật, mỗi năm khai thác được 3 tấn mật, cho thu nhập 400 triệu đồng...


Điều đáng ghi nhận là nghề nuôi ong ở Thanh Hóa ngày càng phát triển theo hướng chuyên môn hóa. Thay vì cách làm nhỏ lẻ, các hộ đã biết liên kết để hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều chi hội nuôi ong được thành lập như Chi hội xã Thọ Lâm (Thọ Xuân) có 29 hội viên, 100 thùng ong; chi hội xã Hà Tân (Hà Trung) có 48 hội viên và 184 đàn ong... Hầu hết các chi hội đều phát huy tinh thần đoàn kết học tập, trao đổi kinh nghiệm về cách nuôi ong, cách tách đàn và quay mật.


Hiệu quả thiết thực từ phong trào nuôi ong lấy mật ở Thanh Hoá đã và đang góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cao cho nhiều hộ nông dân. Đây là nghề có xu hướng phát triển, do vậy, CLB các chủ trang trại cần củng cố phát triển các chi hội nuôi ong, CLB nuôi ong (trực thuộc HLV &TT) để tăng cường sự liên kết, xây dựng quan hệ hợp tác nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển đàn ong và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, Ban quản lý các dự án khoa học kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn cần tạo điều kiện cho HLV &TT Thanh Hoá trực tiếp tham gia các chương trình, dự án như: “Đào tạo nguồn nhân lực cho nghề nuôi ong và xây dựng một số mô hình xã phát triển nuôi ong bền vững”, “Xây dựng mô hình hộ gia đình nuôi ong hiệu quả để xoá đói, giảm nghèo”...

Kinh tế nông thôn
(2009-11-10)

 

Khánh Hòa: Nuôi dế, nghề mới ở Cam Lâm

Email In PDF.

Tôi đã từng nghe có một hộ nông dân nuôi dế ở Vĩnh Trung Nha Trang, nhưng khi tìm hiểu một mô hình làm ăn mới thì hộ này sau một thời gian nuôi đã gặp nhiều khó khăn và không tiếp tục nuôi nữa. Đến hôm nay, khi được anh Huy, cán bộ khuyến nông huyện Cam Lâm giới thiệu mô hình nuôi dế rất hiệu quả, tôi đã tìm đến để mục sở thị.

Đọc thêm...
 

Ép xanh - một cách bón phân hữu cơ độc đáo

Email In PDF.

Từ những năm đầu thập kỷ 60 một số công nhân nông trường Đông Hiếu (Nghệ An) đã có sáng kiến sử dụng lượng cỏ xanh, các loài cây phân xanh được dẫy ra trong quá trình làm cỏ, chăm sóc kết hợp với một ít phân trâu bò tươi và vôi bột đào hố ủ tại chỗ thành một loại phân hữu cơ rất tốt gọi là ép xanh để bón cho các vườn cây ăn quả lâu năm (cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, hồng…), cây công nghiệp dài ngày (cao su, cà phê, chè…) đưa lại kết quả rất tốt.

Với cách làm này bà con thu được nhiều cái lợi: tiết kiệm chi phí mua phân bón, cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít bị sâu bệnh gây hại, đặc biệt là tuổi thọ vườn cây và thời gian cho thu hoạch kéo dài dẫn đến chu kỳ kinh tế cũng kéo dài nên hiệu quả kinh tế tăng cao. Sáng kiến này nhanh chóng được Bộ Nông trường trước đây tổng kết, đánh giá và phổ biến nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp.


Tuy nhiên, dưới sức ép của vấn đề an ninh lương thực và xu hướng vô cơ hóa phân bón của thế giới, nền nông nghiệp nước ta cũng chịu ảnh hưởng lớn, nhiều nơi còn lạm dụng việc sử dụng phân bón hóa học như một biện pháp tăng nhanh năng suất cây trồng mà coi nhẹ vai trò cải tạo đất, bảo vệ cây trồng của phân bón hữu cơ, trong đó hầu như nhiều nơi đã quên lãng kỹ thuật ép xanh. Nhận thấy vai trò to lớn của phân bón hữu cơ trong việc nâng cao chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các nông sản nước ta trong xu thế hội nhập, là một cán bộ kỹ thuật đã từng hướng dẫn công nhân các nông trường nhiều năm làm kỹ thuật ép xanh, nay Cận tôi xin ghi lại ở đây, mong bà con các nơi tham khảo, áp dụng.


- Thời vụ ép xanh tốt nhất: Với các tỉnh khu vực phía Bắc nên làm vào các tháng 6, 7. Với các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ nên ép xanh ngay sau khi mùa mưa sắp kết thúc. Đây là những tháng mà các loại cỏ dại trong vườn cây sinh trưởng, phát triển tốt, lượng chất xanh nhiều thuận lợi cho việc ép xanh tại chỗ. Mặt khác, do nhiệt độ và độ ẩm trong đất còn cao nên quá trình phân hủy chất hữu cơ sẽ diễn ra nhanh, thuận lợi, cho chất lượng phân hữu cơ tốt nhất có lợi cho cây trồng, góp phần cải tạo lý tính, hóa tính của đất trồng.


- Chuẩn bị vật liệu: Cỏ tươi được cắt hoặc dẫy ra từ các băng và xung quanh tán cây; các loại cây trồng xen trên băng như lạc, đậu, vừng, cây phân xanh xung quanh bờ lô, bìa rừng… được chặt ngắn 5-7cm; thu gom các loại phân gia súc tươi như trâu, bò, ngựa, dê, lợn; chuẩn bị một ít vôi bột và phân lân.


- Cách làm: Với các vườn cây ăn quả, cây cà phê chưa kép tán, có thể đào rãnh hình bán nguyệt theo hình chiếu của tán cây hoặc khi đã khép tán thì đào rãnh chung giữa tán của 2 cây liền kề. Kích thước hố đào: chiều dài từ 1,5 đến 3m hoặc bằng 1/2 tán cây tùy theo độ lớn của cây; chiều rộng 20cm, sâu 20-30cm. Năm sau lại đào và ép xanh phía đối diện. Với cây chè nên đào rãnh dài theo chiều dài giữa 2 hàng chè để ép xanh. Với cây cao su, mỗi năm đào 1 hố có kích thước 1,5m x 0,5m x 0,5m về một phía của cây, các năm sâu lại đào và ép xanh các phía còn lại vừa để ép xanh, vừa làm hố dự trữ nước.


Chú ý: với những vùng đất dốc nên đào rãnh và ép xanh phía trên cao để phân chảy ngấm xuống dưới, tránh bị rửa trôi gây lãng phí. Mỗi hố cho xuống khoảng 100kg cỏ tươi, chất xanh (với cao su có thể quét gom lá khô để đốt rồi cho vào hố) + 15-20kg phân trâu bò tươi + 0,5-1kg phân lân. Trộn đều các loại vật liệu trong hố rồi lấp kín đất, tưới đủ ẩm, phía trên có tủ rơm, rạ, lá khô để giữ ẩm.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-09)

 
Trang 176 trong tổng số 333

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video