Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Thoát nghèo từ nghề làm muối

Email In PDF.

Từ lâu, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình không chỉ nổi tiếng bởi có nghề nuôi trồng thuỷ - hải sản phát triển, mà còn được biết đến vì nơi đây có diện tích sản xuất muối lớn nhất ở tỉnh Quảng Bình. Nghề làm muối khá vất vả, gian truân, nhưng nhờ chịu thương, chịu khó và quyết tâm gắn bó lâu dài với nghề, nên nhiều gia đình ở Quảng Phú đã thực sự thoát nghèo.

Đọc thêm...
 

Liên kết trong sản xuất, kinh doanh cà-phê ở Ðác Lắc

Email In PDF.
Làm ra hạt cà-phê là bao nỗi nhọc nhằn của người nông dân, nhưng đến khi bán lại không bù đắp nổi chi phí. Mặc dù vậy, nhiều người vẫn "lao" vào trồng cà-phê ngay cả khi ngành nông nghiệp,...
Đọc thêm...
 

Sáng chế từ lòng yêu thương mẹ

Email In PDF.
Hàng ngày, thấy mẹ tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, Nguyễn Vũ Hoàng, học sinh lớp 10A6, Trường THPT Nguyễn Trãi (TP. Thanh Hoá - Thanh Hóa) đã nghiên cứu và sáng chế thành công máy vệ sinh trang trại gà, vịt.
Đọc thêm...
 

Dế ở nhà lầu

Email In PDF.

Những năm gần đây, món ăn từ côn trùng đã thu hút được nhiều thực khách, trong đó món ăn chế biến từ dế được nhiều người ưa chuộng, bởi thịt dế giàu đạm, canxi, vị ngon ngọt... Tuy nhiên, ở Bạc Liêu, nuôi dế vẫn còn là mô hình mới cần được nhân rộng.

Đọc thêm...
 

Đắk Lăk: Huyện Krông Pách thực hiện một số mô hình sản xuất tiên tiến có hiệu quả

Email In PDF.
Từ năm 2006 đến nay, ngành nông nghiệp huyện Krông Pách (Đắc Lắc) đã triển khai các mô hình sản xuất tiên tiến, trong đó có các mô hình theo chương trình khuyến nông của tỉnh,...
Đọc thêm...
 

Tự sản xuất chế phẩm Ometar

Email In PDF.

Nông dân trồng lúa ĐBSCL thở phào nhẹ nhõm khi ứng dụng chế phẩm sinh học Ometar trừ rầy nâu hại lúa đã giảm chi phí 10 lần so với việc phun thuốc hóa học trừ rầy. Và đặc biệt hơn, chế phẩm sinh học Ometar được chính bàn tay nhà nông tự sản xuất để sử dụng.

Ông Nguyễn Văn Huấn, ấp 3, xã Phong Thạnh, huyện Cầu Kè, Trà Vinh là 1 trong nhiều nông dân tham gia mô hình tự sản sản xuất chế phẩm Ometar để phòng trừ rầy nâu. Ông Huấn cho biết: Dùng Ometar trừ rầy nâu, với 2 ha lúa chuẩn bị thu hoạch chỉ tốn có 160.000 đồng, so với việc sử dụng thuốc hóa học thì giảm 10 lần. Điều hay là chế phẩm Ometar do chính bàn tay nông dân trong CLB sản xuất. Qui trình do TS Nguyễn Thị Lộc, Trưởng Bộ môn Phòng trừ sinh học thuộc Viện Lúa ĐBSCL đến tận vùng sâu này chuyển giao.


Ông Nguyễn Văn Thắng, ấp 3, xã Phong Thạnh, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh - chủ nhiệm CLB sản xuất lúa giống, nói: Hiệu quả của chế phẩm đã được khẳng định khi 10 nông dân tham gia sản xuất 4 ha lúa mô hình thực nghiệm đã đạt kết quả tốt: Giảm chi phí diệt rầy đến 10 lần so với sử dụng thuốc BVTV bằng hóa chất; không làm ô nhiễm môi trường, không tiêu diệt thiên địch; đặc biệt chế phẩm Ometar sử dụng trừ rầy nâu lúc lúa đang trổ là rất tốt vì không ảnh hưởng gây lép hạt. Trong khi đó nếu lúc lúa đang trổ có rầy nâu phải phun thuốc hóa học thì ảnh hưởng tới thụ phấn của hạt, hạt lép nhiều và giảm năng suất.


Ông Nguyễn Thành Trung, Bí thư chi bộ ấp 3, xã Phong Thạnh nói: Hiệu quả đã quá rõ rệt, diệt rầy chết, chỉ tốn có 8.000 đồng/công đất (phun 2 lần), giúp cho nhà nông giảm chi phí rất lớn. Tôi rất mong Viện Lúa ĐBSCL tiếp tục chuyển giao và nhân rộng quy trình sản xuất chế phẩm Ometar.


TS Nguyễn Thị Lộc, Trưởng Bộ môn Phòng trừ sinh học thuộc Viện Lúa ĐBSCL cho biết: Chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar của Viện Lúa ĐBSCL đã được đưa vào danh mục thuốc sinh học BVTV từ tháng 5/2003. Chế phẩm sinh học Ometar đã được sử dụng rộng rãi tại ĐBSCL để trừ rầy nâu, bọ xít hại lúa và bọ cánh cứng hại dừa với diện tích hàng chục ngàn ha. Thế nhưng, trong những năm gần đây, khi dịch rầy nâu bộc phát tại ĐBSCL thì lượng chế phẩm sinh học Ometar do Bộ môn sản xuất không thể đáp ứng nhu cầu của nông dân. Vì vậy, chúng tôi đã nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện “Quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh Ometar ở quy mô nông hộ”, quy trình này ra đời vào năm 2008.


Sau khi thử nghiệm thành công trên 25 ha lúa giống vụ ĐX 2008 - 2009 tại Viện Lúa ĐBSCL, qui trình đã được triển khai trình diễn tại 2 điểm ở huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng vào giữa năm 2009 và kết quả rất tốt. Tại Hội nghị “Định hướng phát triển ứng dụng biện pháp sinh học trong phòng chống dịch hại cây trồng” mới đây, quy trình được Lãnh đạo Bộ NN-PTNT đánh giá rất cao và cho phép chuyển giao rộng rãi để nâng cao hiệu quả SX lúa.


Ông Giang Khộng, ấp trà Cú B, xã Kim Sơn, Trà Cú, Trà Vinh cho biết: Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học Ometar quá dễ, mặc dù nông dân nơi đây không rành tiếng Việt. Chúng tôi cảm ơn các nhà khoa học của Viện Lúa ĐBSCL đến tận phum sóc để tập huấn giúp bà con dân tộc Khmer chúng tôi làm được sản phẩm diệt rầy hiệu quả mà lại ít tiền. Vụ lúa mùa này chắc chắn sẽ giảm chi phí diệt rầy nhiều lắm.


TS Nguyễn Thị Lộc tính: Chi phí sản xuất 100 gói chế phẩm Ometar theo quy mô nông hộ chỉ với giá thành là 752.100 đồng (nếu trừ hao hụt với tỷ lệ nhiễm tạp tối đa là 10%, thì còn lại 90 gói), như vậy 1 gói 500 gam có giá thành 8.400 đồng, 1 ha sử dụng 5 gói là 42.000 đồng/lần phun. Một vụ lúa nông dân phun 2 lần chỉ tốn chi phí 84.000 đồng/ha; giảm rất nhiều so với phun thuốc hóa học BVTV để diệt rầy nâu. Vừa qua cả 6 xã của 3 huyện ở Trà Vinh tự sản xuất chế phẩm Ometar, tỷ lệ nhiễm tạp rất ít (1-5%), vì vậy mà giá thành thực tế tại Trà Vinh chỉ có gần 40.000 đồng/ha cho 1 lần phun.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-24)

 

Sản xuất điện từ muối

Email In PDF.
Sau sức gió, Mặt Trời, các dòng chảy và thủy triều, Statkraft - công ty quốc gia Na Uy chuyên về năng lượng tái sinh - đang chuẩn bị sản xuất điện sạch bằng việc khai thác một hiện tượng tự nhiên khác, đó là cuộc "đọ sức" giữa nước sạch và nước biển để giải phóng năng lượng.
Đọc thêm...
 

Nuôi cá nước lạnh ở Tây Nguyên

Email In PDF.

Cá nước lạnh gồm cá hồi vân và cá tầm được du nhập vào nước ta từ đầu năm 2005, ban đầu được nghiên cứu nuôi thử nghiệm tại Sa Pa. Vào tháng 4/2006, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3 (Viện 3) đã đưa 20.000 con cá hồi giống và 20 con cá tầm từ Sa Pa đưa về nuôi thử nghiệm rất thành công ở Lâm Đồng. Từ kết quả thử nghiệm rất khả quan này đã có rất nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã triển khai đầu tư nuôi cá nước lạnh.

CÁ HỒI NUÔI VÙNG LẠNH


Có thể sống khỏe ở nhiệt độ từ 10 – 17 độ C, mật độ nuôi thích hợp từ 18 – 20kg/m3, cá hồi vân đang được nuôi ở những vùng có khí hậu lạnh và độ cao trên 1.200m (so với mặt nước biển). Bắt đầu từ tháng 4/2006, những con cá hồi vân đầu tiên được nhập về nuôi tại thôn Klong Klanh, xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng. Cá được nuôi trong ao lót bạt với nguồn nước suối lạnh lưu thông liên tục được lấy từ rừng già, nhiệt độ nước từ 16-19oC. Sau một năm nuôi thả, cá hồi đạt kích cỡ trung bình từ 1-1,7kg/con, tỷ lệ sống đạt gần 80%. Năng suất quy đổi đạt 40 tấn/ha. Giá bán cá hồi vân trên thị trường hiện nay khoảng 120 - 160 ngàn đồng/kg, người nuôi có thể thu 3,6 - 4,8 tỷ đồng/ha/năm và lợi nhuận đạt 40-50%.


Kết quả hết sức khả quan này đã gây chú ý cho nhiều nhà đầu tư, lần lượt các dự án nuôi cá hồi được thực hiện tại Lâm Đồng. Đến nay, tại thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương, Đam Rông hàng loạt doanh nghiệp đã đầu tư nuôi cá hồi vân, chỉ trong 2 năm, diện tích nuôi cá hồi vân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng lên khoảng 10 ha. Dự kiến năm 2009, sản lượng cá hồi thương phẩm tại Lâm Đồng đạt trên 150 tấn. Và mô hình này đang lan rộng ra các tỉnh ở Đăk Lăk, Kon Tum… Tính đến nay, ở Tây Nguyên đã có 25 ha nuôi cá hồi vân tập trung ở những vùng cao, lạnh dưới 18oC. Và không dừng lại ở đó, có nhiều những dự án khác đang được tiếp tục đầu tư với quy mô lớn.


Không chỉ có ở Tây Nguyên, ở các tỉnh vùng cao phía Bắc, cũng đã “sốt” nuôi cá hồi với những trang trại nuôi được đầu tư quy mô lớn ở Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang, v.v.


CÁ TẦM CHO VÙNG MÁT


Bắt đầu từ tháng 5/2005, lần đầu tiên tại Việt Nam, 2kg trứng cá tầm Seberia đã thụ tinh được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 nhập về nuôi thử nghiệm với sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia Nga. Và tháng 4/2006, Viện 3 đã mang 20 con cá tầm về nuôi thử nghiệm tại Lâm Đồng. Sau 14 tháng, những con cá tầm đã tăng trưởng bình quân 0,6 – 0,8kg/con/tháng và đặc biệt là tỷ lệ sống đạt trên 95%, giá cá tầm thương phẩm 280 – 300.000 đồng/kg. Kết quả này đã gây ngạc nhiên cho cả các chuyên gia Nga về khả năng thích nghi và tốc độ tăng trưởng của cá tầm ở Tây Nguyên.


Nếu cá hồi thích hợp với nhiệt độ dưới 18oC, thì các tầm lại có thể thích nghi và phát triển tốt ở vùng có độ cao từ 600m trở lên, nhiệt độ 18 – 25oC. Chính điều kiện này đã là “lợi thế” của đối tượng nuôi này về địa điểm nuôi đối với cá hồi.


Tiến sỹ Nguyễn Thị Xuân Thu, Viện trưởng Viện 3 cho biết: Diện tích có thể nuôi được cá tầm ở Tây Nguyên rất lớn, đặc biệt nuôi tại các hồ chứa với khoảng 54.000ha. Trong khi đó, diện tích thích hợp để nuôi cá hồi ở Tây Nguyên chỉ khoảng 250ha. Đây chính là tiềm năng của Tây Nguyên nếu phát triển nuôi cá tầm, có thể nuôi thương phẩm hoặc nuôi để lấy trứng.


Trên thực tế hiện nay, không chỉ ở các tỉnh vùng cao phía Bắc có nhiệt độ lạnh quanh năm hay các tỉnh Tây Nguyên mà ngay cả một số vùng như Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế… hay thậm chí các tỉnh Duyên hải miền Trung đều có những vùng có khí hậu thích hợp với nuôi cá tầm, ví như: Trên hồ Đa Mi, tỉnh Bình Thuận, Cty cá tầm Việt Nam và Cty cổ phần cá tầm long Đạ Mi đã đầu tư nuôi cá tầm rất thành công trong 30 lồng với 23.000 con trên diện tích 30ha.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-24)

 

Quảng Ngãi: Nuôi tôm thẻ nước mặn năng suất cao

Email In PDF.

Quảng Ngãi: Nuôi tôm thẻ nước mặn năng suất cao

Trước thực trạng ngày càng có nhiều hộ nuôi tôm trong tỉnh phát triển mở rộng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở môi trường nước lợ (có độ mặn <25‰), làm cho nguồn nước ngọt trong lòng đất ở vùng ven biển ngày càng khan hiếm, để tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất cho nghề nuôi tôm chân trắng, hạn chế sử dụng nguồn nước ngọt, năm 2009 Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng mô hình nuôi tôm chân trắng ở môi trường nước có độ mặn ≥25‰ tại xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, trên diện tích thực hiện 3.000m2, mật độ thả nuôi 75 con/m2.

Qua theo dõi của cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quảng Ngãi, sau thời gian 2,5 đến 3 tháng nuôi, tỷ lệ sống của tôm đạt: 81,7-98,6%; trọng lượng bình quân: 10-10,2 g/con; năng suất tôm nuôi đạt: 12,5-14,8 tấn/ha. Đáng lưu ý là trong quá trình thực hiện mô hình, phải cho tôm ăn phù hợp và quản lý môi trường chặt chẽ.


Phát hiện và khống chế kịp thời sự thay đổi bất thường của chất lượng nước trong ao, duy trì đảm bảo các yếu tố môi trường thích nghi cho tôm (như pH, nhiệt độ, độ kiềm), cần phải kiểm tra thường xuyên và giữ mức ổn định trong quá trình nuôi. Đồng thời cần chú ý tăng cường sục khí cho ao nhất là sau một tháng thả nuôi, tăng cường sử dụng vi sinh để giúp phân huỷ nhanh các chất thải trong ao, kiểm tra chu kỳ lột xác của tôm để có biện pháp thay nước kích thích tôm lột xác nhanh và đều hơn. Nhờ vậy nên tôm phát triển tốt, không bị bệnh trong suốt thời gian nuôi.


Sau khi trừ các khoản chi phí (tiền giống, thức ăn, thuốc phòng trị bệnh, công chăm sóc và khấu hao tài sản cố định) mô hình đã thu lãi được 26-30 triệu đồng/vụ nuôi.


Từ thành công của mô hình cho thấy, tôm thẻ chân trắng có thể nuôi ở môi trường nước có độ mặn ≥25‰ tại Quảng Ngãi, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa hạn chế được việc khai thác mạch nước ngọt ngầm, bảo vệ được môi trường sinh thái tại địa phương.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-24)

 
Trang 176 trong tổng số 337

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video