Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Trồng cỏ, nuôi bò: Hướng đi mới trong phát triển kinh tế ở Lục Ngạn

Email In PDF.
Trồng cỏ, nuôi bò: Hướng đi mới trong phát triển kinh tế ở Lục Ngạn

Với mục tiêu đưa chăn nuôi đại gia súc trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của 12 xã vùng cao, UBND huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) đã trích ngân sách gần 100 triệu đồng giao cho Phòng Nông nghiệp và PTNT triển khai xây dựng mô hình trồng cỏ cao sản VA06 để chăn nuôi bò nhốt ở xã Phong Vân.

Những năm gần đây, huyện Lục Ngạn có chủ trương đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc tại 12 xã vùng cao nhằm tận dụng lợi thế đất đai, diện tích đồng cỏ lớn và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, đến nay, chăn nuôi đại gia súc ở Lục Ngạn vẫn chưa có bước tiến triển, thậm chí còn có chiều hướng suy giảm. Nguyên nhân do tập quán chăn nuôi trâu, bò thả rông của bà con đã tồn tại từ lâu, việc làm chuồng trại không bảo đảm kỹ thuật...


Nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội ở các xã vùng sâu phát triển thông qua việc lựa chọn mô hình thích hợp, tháng 7/2009, UBND huyện Lục Ngạn đã đầu tư gần 100 triệu đồng giao cho Phòng Nông nghiệp và PTNT triển khai thực hiện mô hình trồng cỏ cao sản VA06, chăn nuôi bò nhốt ở xã vùng cao Phong Vân.


Ba hộ dân tham gia mô hình này được Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện tổ chức cho đi học tập kinh nghiệm trồng cỏ, chăn nuôi bò ở huyện Mèo Vạc (Hà Giang); được tập huấn kỹ thuật trồng cỏ, chăn nuôi bò nhốt, biện pháp phòng chống dịch bệnh cho bò. Đồng thời, mỗi hộ được hỗ trợ 50% kinh phí mua 4 con bò cái sinh sản (khoảng 20 triệu đồng), hỗ trợ một phần kinh phí xây dựng chuồng trại chăn nuôi theo quy chuẩn và được cấp giống cỏ cao sản VA06 để triển khai trồng.


Sau hơn một tháng triển khai, các hộ dân trong mô hình đã làm xong chuồng trại theo quy chuẩn kỹ thuật và trồng được hơn 3 mẫu cỏ VA06 tại những chân ruộng cao, cấy lúa không ăn chắc và trồng xen với vải thiều. Trong đó, gia đình các ông Vi Văn Tìn, Trần Đình Vắn (làng Chả) và ông Chu Văn Sảy (làng Rì) trồng được khoảng 1,2 mẫu có; 36 hộ dân ở các thôn bản trong xã Phong Vân trung bình mỗi hộ trồng được 0,5 sào. Đối với những hộ triển khai trồng giống cỏ VA06 xuống chân ruộng cao được UBND huyện hỗ trợ 150kg thóc/sào.


Việc thực hiện mô hình trồng cỏ cao sản, chăn nuôi bò nhốt tại chuồng sẽ là cơ sở quan trọng để người dân vùng cao Lục Ngạn thay đổi tập quán chăn nuôi lạc hậu, từng bước xây dựng quy trình chăn nuôi hàng hóa an toàn, bền vững.

Kinh tế nông thôn
(2009-10-23)

 

Ðể cây cao-su ở Quảng Trị phát triển bền vững

Email In PDF.

Cơn bão số 9 vừa qua, tuy tâm bão không đi qua tỉnh Quảng Trị nhưng đã làm hơn 1.500 ha cây cao-su trên địa bàn bị gãy đổ, tập trung ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong và Hướng Hóa, thiệt hại ước tính lên đến hàng trăm tỷ đồng. Ðó là con số thiệt hại nặng nề do bão gây ra mà người trồng cao-su phải gánh chịu.

Sau bão, rừng cao-su xơ xác


Sau bão, chúng tôi lên Nông trường cao-su Bến Hải, Quyết Thắng và vùng trồng cao-su tiểu điền của huyện Vĩnh Linh, Gio Linh để tìm hiểu, chia sẻ những thiệt hại với người dân vùng bão. Khi đến Nông trường cao-su Bến Hải, thuộc Công ty cao-su Quảng Trị, tận mắt chứng kiến những vườn cây cao-su bị gãy đổ, xác xơ tiêu điều mà xót xa cho những người trồng cao-su bị cuốn trôi theo bão. Những cây cao-su có đường kính từ 20 - 25 cm bị gãy ngang thân hàng loạt, thân gãy lìa gốc ngổn ngang và vô số cây bật rễ, ngả nghiêng... Mủ trắng ứa ra từ thân cây cao-su như dòng nước mắt của những người nông dân một nắng hai sương chăm bẵm, nhọc nhằn hơn chục năm trời. Huyện Vĩnh Linh là địa phương bị thiệt hại nặng nề nhất, có đến 936 ha cao-su bị gãy, đổ, trong đó các xã Vĩnh Thủy hơn 250 ha, Vĩnh Trung 200 ha, Vĩnh Hiền và Vĩnh Thạch, mỗi xã hơn 100 ha...


Ðến vùng trồng cao-su xã Vĩnh Thủy, tận mắt chứng kiến những người dân mồ hôi ướt đẫm đang kéo dựng lại những cây bị đổ. Dừng tay lau mồ hôi,  ông Trần Văn Phong cho biết: Suốt thời gian từ sau bão đến nay, ngày nào người dân cũng ra vườn kéo dựng thẳng lại những cây cao-su bị nghiêng ngả, bật gốc và cưa xẻ, thu gom những thân cây bị gãy để bán cho nhà máy chế biến gỗ; không được bao nhiêu tiền chỉ bù đắp lại một phần cho những ngày lao động mệt nhọc này thôi.


Ðến thăm tiểu điền của ông Nguyễn Ðức, ở thôn Nông Trường, xã Vĩnh Hiền (Vĩnh Linh), bên đống gỗ cao-su vừa được cưa thành từng đoạn để chờ người đến mua, ông cho biết: Gia đình có gần hai ha, với 800 cây cao-su, khoảng sáu năm tuổi, đã cho thu hoạch từ năm 2008. Thu nhập mỗi ngày của gia đình từ số cây cao-su trên bình quân khoảng 300 nghìn đồng. Trong cơn bão số 9 vừa qua, cả vườn cây của gia đình ông bị gãy, đổ chỉ còn lại mấy chục cây. Ông rơm rớm nước mắt: Bao khổ cực mà vợ chồng bỏ ra chăm sóc suốt mấy năm qua, thế là trắng tay! Dự định mua xe máy, làm nhà, cho con đi học đại học và hy vọng khá lên từ cây cao-su đã bị cuốn theo bão... Khi được hỏi: "Nếu được Nhà nước hỗ trợ cây giống, vốn vay, vợ chồng ông có trồng lại cây cao-su không?". Ông Ðức trả lời không một chút do dự: Trồng chứ, nhưng phải vài năm sau mới có thu hoạch và điều ông cũng như bao người nông dân khác lo lắng nhất là những cơn bão liệu có tiếp tục làm vườn cây mới gãy đổ nữa không...?


Nguyên nhân cây cao-su bị gãy đổ ngoài đặc thù thân cây cao, có tán lá rộng, giòn không chịu được sức gió mạnh còn có nguyên nhân các ngành chức năng và người trồng không quan tâm đến, như không chú trọng đến công tác quy hoạch; do muốn mở rộng diện tích nên nhiều hộ không tính đến việc trồng rừng tạo vành đai phòng hộ, chắn gió; mật độ trồng cao-su quá dày làm cản gió; nguồn lợi nhuận từ mủ cao-su mang lại cao khiến nhiều hộ khi thu hoạch không tuân theo quy trình kỹ thuật mà cạo mủ theo kiểu "vắt kiệt"...


Bài học sau bão


Trao đổi với chúng tôi về giải pháp bảo vệ rừng cao-su trong mùa mưa bão, ông Nguyễn Văn Lý, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh cho biết: Ngoài nguyên nhân chính khiến cây cao-su bị gãy đổ hàng loạt trong bão do thân cây giòn không chịu được sức gió mạnh, còn có nguyên nhân người trồng cao-su chỉ chú trọng đến việc mở rộng diện tích mà không quan tâm đến việc trồng cây tạo vành đai cản gió, chắn gió cho vườn cao-su đề phòng khi có bão xảy ra; bà con nông dân thường chạy theo số lượng nên trồng với mật độ quá dày (hiện tại bình quân 500 đến 550 cây/ha) tạo nên sức cản gió lớn khiến cây nhanh chóng gãy đổ khi gặp bão. Ngoài ra, theo cán bộ kỹ thuật về trồng và khai thác cây cao-su Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị do nhiều hộ dân khai thác cao-su chạy theo lợi nhuận nên cạo mủ theo kiểu "vắt kiệt" cây cao-su (cạo mủ sáu ngày nghỉ một ngày trong tuần, nếu cạo mủ theo đúng quy trình kỹ thuật thì phải cạo hai ngày, nghỉ một ngày) khiến cây yếu không có sức chống chịu được với gió bão.


Ðể giúp người trồng cao-su tiểu điền trên địa bàn khắc phục thiệt hại, tỉnh Quảng Trị đã hỗ trợ mỡ Zenlin cho những địa phương có diện tích cao-su tiểu điền bị gãy, đỗ để bôi vào vết cạo chống lở loét, nhiễm nấm hồng và nhiều loại bệnh khác trên cây cao-su.


Giám đốc Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị Nguyễn Văn Bài cho biết: Ngành nông nghiệp đã chỉ đạo các địa phương hướng dẫn cho bà con nông dân, nếu cây bị gãy có tuổi từ một đến ba năm thì tiến hành cắt sát mép mắt ghép sau đó bôi mỡ Zenlin lên vết cắt để cây mọc chồi mới; cây có tuổi từ ba năm trở lên nếu bị gãy ở độ cao trên hai mét thì tiến hành cưa ngang nơi gãy một góc 15 - 30o rồi bôi mỡ Zenlin lên vết cắt để cây mọc chồi mới. Sau khi cây mọc chồi mới sẽ tiến hành tỉa chồi, tạo hình cho vườn cây không để chồi phát triển quá lớn sẽ làm cây mất sức và để lại vết sẹo trên thân cây. Ðối với vườn cao-su đang khai thác nếu cây bị gãy trên mặt cạo (cách mặt đất từ 1,5 - 3 mét) thì tiến hành cưa ngang nơi gãy một góc 15 - 30o sau đó bôi mỡ Zelin lên vết cắt để cây mọc chồi mới. Ðể bảo vệ vườn cây cao-su tránh những thiệt hại do bão trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn sẽ hướng dẫn các hộ dân trồng cao-su tiểu điền chú trọng hơn nữa việc trồng rừng làm vành đai bảo vệ vườn cao-su; các hộ bắt đầu trồng mới không chạy theo số lượng để trồng cây cao-su với mật độ dày (mỗi năm tỉnh có chủ trương trồng mới hơn 1.000 ha cao-su); khuyến cáo các hộ dân có diện tích cao-su đang trong thời kỳ khai thác phải khai thác đúng quy trình kỹ thuật để bảo đảm sức chống chịu cho vườn cao-su chứ không nên vì lợi ích trước mắt mà khai thác theo kiểu "vắt kiệt" cây cao-su.


Trao đổi với chúng tôi về quy hoạch vùng cao-su để hạn chế thiệt hại do bão gây ra, ông Nguyễn Sư Thí, Giám đốc Công ty cao-su Quảng Trị cho biết: Công ty đang phối hợp với Tập đoàn Cao-su Việt Nam cùng ngành Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị rà soát lại diện tích, quy hoạch và ưu tiên chọn những vùng xa biển, kín gió, phù hợp với thời tiết, khí hậu, đất đai của tỉnh, nhất là những vùng phía tây các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Ðakrông để phát triển cao-su, bảo đảm tính hiệu quả và ổn định lâu dài, không phát triển cao-su xuống vùng gần biển, thay thế giống cao-su cũ bằng các loại giống mới, ưu việt như: RIM 600, PB 260, PB 255, PB 235... vừa rút ngắn thời gian khai thác, cho sản lượng mủ cao, chịu được sức gió...


Ở những vùng không kín gió sẽ không để cây cao-su phát triển quá cao, có thể cắt ngọn khi cây đã lên từ hai đến ba mét. Tuân thủ nghiêm kỹ thuật trồng bờ lô chắn gió đúng quy định, có thể trồng phi lao đủ độ dày hoặc những loại cây thân vững chắc, chịu được sức gió mạnh; đồng thời có thể nghiên cứu, ứng dụng một số giải pháp trồng cao-su chịu gió của nước ngoài.

Báo Nhân dân Điện tử
(2009-10-23)

 

Rau mùi... xuất ngoại

Email In PDF.

Rau mùi... xuất ngoại

Anh Nguyễn Văn Mật ở thôn Nghĩa Hiệp, xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, một trong những người đầu tiên sản xuất mặt hàng rau mùi để xuất cho một công ty rau sấy khô của Nhật đóng tại thị trấn Liên Nghĩ, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trao đổi với chúng tôi, anh Mật cho biết: Trước đây anh đã từng làm đủ thứ nghề, từ cấy lúa, trồng bắp, tới chạy xe, nhưng cuộc sống vẫn không khấm khá lên được, mới đây anh chuyển qua trồng rau mùi (ngò rí). Rau mùi là loại cây gia vị, vừa dùng để trang trí cho món ăn thêm hấp dẫn vừa ăn kèm với các loại rau sống rất ngon miệng.  Hiện nay loại rau này đã trở thành hàng hoá xuất khẩu chính vì vậy thị trường tiêu thụ rất lớn, rau sản xuất ra không đủ cung cấp cho các công ty nước ngoài và các chợ đầu mối ở Đà Lạt, TPHCM.


Anh Mật cho hay: Trồng rau mùi cũng rất dễ, trồng được trên nhiều loại đất như đất đồi, đất phù sa ven sông, đất cát pha nhẹ. Nhưng phù hợp nhất, là loại đất tơi xốp, cao ráo, dễ thoát nước. Chuẩn bị đất: cần làm đất tơi xốp, đánh luống rộng 1m – 1,2 m, cao 20 cm; dài tuỳ theo khổ đất. Rau mùi không chịu ánh sáng mạnh, nên làm giàn che, có thể dùng lưới màu trắng để che, vừa ngăn bớt ánh sáng vừa tránh được mưa lớn, cây không bị dập nát. Chọn giống: hạt giống mua ở những cơ sở có uy tín, hạt mua về dùng chai thuỷ tinh lăn cho bể, sau đó gieo đều trên mặt luống, gieo xong phủ một lớp đất mỏng, tưới đủ ẩm.


Chăm sóc: ngày tưới 2 lần, mùa mưa không cần tưới, Từ khi gieo hạt 10 ngày sau hạt nảy mầm. Khi cây mọc khỏi mặt đất 3 – 4 cm, tiến hành tưới phân urê (lần thứ nhất) từ 4 – 5kg/sào (1.000m2). Để giảm thiểu công tưới nước và tưới phân, anh Mật dùng hệ thống béc tự động, 20 ngày tưới phân lần thứ hai. Sau khi tưới phân xong cần tưới lại bằng nước sạch, để phân không dính trên mặt lá, rau không bị cháy. Phòng trị bệnh: rau mùi được trồng trong nhà lưới, cây ít bệnh, tuy nhiên rau thường bị sâu vẽ bùa, có thể dùng thuốc TRIGAS, chai 50cc pha 32 lít nước để xịt, nếu bị nấm dùng MATACIN để trị. Thu hoạch: từ khi trồng tới lúc thu hoạch là 40 ngày, thu hoạch hết một lần, nhổ cả rễ cân bán cho công ty.


Anh Mật cho hay: Hiện nay anh đang trồng 7 sào, nếu chăm sóc tốt đạt từ 1.200 – 1.500kg/sào. Thu hoạch bán cho công ty rau sấy khô của Nhật, với giá bán cố định là 4.000đ/kg. Nếu so sánh trồng rau mùi với trồng lúa thì lãi gấp nhiều lần và nhàn hơn nhiều. Ngoài ra anh còn trồng bán cho thị trường nội địa, giá bán rau dao động từ 12.000 – 28.000đ/kg. Thời gian thu hoạch sớm hơn, khoảng 30 ngày. Rau mùi tuy dễ trồng nhưng không ưa đất quen, khi thu hoạch xong cần làm đất trồng loại rau khác.

Báo Nông nghiệp
(2009-10-22)

 

Nghệ An: Dân chọn tôm he

Email In PDF.

Theo thống kê của Chi cục nuôi trồng thủy sản Nghệ An, tổng sản lượng tôm thương phẩm tại 5 huyện, thành, thị 9 tháng đầu năm nay đạt 2.605 tấn, ước đạt khoảng 200 tỷ đồng. Trong đó tôm sú 959 tấn, tôm he (thẻ chân trắng) 1.646 tấn. Tuy nhiên, cả chính quyền và một bộ phận người nuôi tôm vẫn còn "ngập ngừng" giữa chọn nuôi tôm sú hay tôm he...

Nhìn vào sản lượng tôm thương phẩm trong 9 tháng đầu năm 2009, thì sản lượng tôm he gần gấp đôi tôm sú. Trong khi diện tích nuôi tôm he vụ 1/2009 chỉ có 302,5ha, còn diện tích nuôi tôm sú là 663,5 ha, chưa kể 302 ha tôm sú nuôi quảng canh. Một thực tế ai cũng biết trong 4 năm nay tại Nghệ An là trên cùng một đơn vị diện tích, năng suất nuôi tôm he bình quân năm cao gấp 3 - 4 lần so với tôm sú.


Một vụ tôm he chỉ kéo dài 3 tháng là cho thu hoạch, còn tôm sú phải đến 6 tháng nên tôm he có thể nuôi được 3 vụ/năm. Đây là lý do giải thích vì sao năng suất nuôi tôm he công nghiệp có thể đạt trên dưới 20 tấn/ha/năm, còn năng suất nuôi tôm sú công nghiệp chỉ dừng lại ở mức 3 - 4 tấn/ha/năm, hộ đầu tư thâm canh tốt nhất cũng chỉ được khoảng 5 tấn/ha/năm. Bởi thế, dù giá tôm sú cao gấp đôi so với tôm he, nhưng nhờ yếu tố năng suất nên lợi nhuận cuối cùng mà các hộ nuôi tôm he thu được vẫn cao gấp 2,5 lần so với nuôi tôm sú.


Qua khảo sát tại các hộ đi tiên phong trong việc đưa tôm he về nuôi ở Nghệ An, ai cũng thấy một thực tế là nuôi tôm he hiệu quả hơn nuôi tôm sú. Ông Vũ Văn Đức, trú tại xã Quỳnh Liên - Quỳnh Lưu, người được hiệp hội nuôi tôm he tại Nghệ An coi là "vua tôm he" xứ Nghệ nói với chúng tôi: Trong 10 năm làm nghề nuôi tôm, trong đó có 7 năm nuôi tôm sú, 3 năm trở lại đây mới chuyển sang nuôi tôm he.


Nói thật với nhà báo giờ nhìn lại quãng thời gian dài còng lưng nuôi tôm sú mà thấy xót xa. Nuôi tôm sú, những năm không bị dịch bệnh, thời tiết thuận lợi, được mùa tôm thì cuối vụ có thể dắt lưng vài trăm triệu. Nhưng sang vụ tới có thể mất trắng vì tôm bị dịch đốm trắng. Thế là nợ ngân hàng lại đè nặng lên vai. Vụ sau ai nấy lại gồng mình vay vốn "kéo cày" trên từng vuông tôm để trả nợ ngân hàng. Bản thân tôi 7 năm nuôi tôm sú vất vả là thế nhưng cũng chỉ "vừa húp, vừa thổi" chứ chẳng dư dật được bao nhiêu. Từ năm 2007 đến nay, khi mạnh dạn chuyển sang nuôi tôm he trên toàn bộ diện tích nuôi (2 ha) thì số phận đã mỉm cười với gia đình tôi. Nhờ liên tục thành công nên mỗi năm thu lãi ròng ít nhất cũng được 600 đến 700 triệu đồng, những năm thắng lớn thu lãi ròng từ 1 đến 1,2 tỷ đồng/năm.


Điều đáng nói là từ kinh nghiệm nuôi tôm he của mình, ông Vũ Văn Đức còn khuyến cáo các hộ nuôi tôm sú chuyển sang nuôi tôm he, thậm chí ông còn bỏ công sức, tiền của và kỹ thuật giúp nhiều gia đình nuôi tôm sú bị "phá sản" chuyển sang nuôi tôm he và đã trả được nợ ngân hàng. Điển hình là gia đình bà Hồng ở Quỳnh Xuân, sang xã Quỳnh Liên thuê đất làm 2 hồ nuôi tôm sú (1 ha). Do chưa có kinh nghiệm nên từ năm 2006 đến 2008, gia đình bà Hồng bị thất bại liên tiếp vì bị bệnh đốm trắng. Nợ ngân hàng lên đến 300 triệu đồng khiến ông chồng lo phát ốm rồi đột ngột qua đời.


Thấy những hộ nuôi tôm he đều thắng lợi nên đầu năm 2009 bà Hồng đánh liều chuyển sang nuôi tôm he nhưng đầu vụ lại mua phải giống tôm he Trung Quốc kém chất lượng nên mới thả được 20 ngày tôm bị chết sạch. Cha con ông Vũ Văn Đức đành phải ra tay cứu giúp. Ông Đức cho xử lý lại môi trường ao hồ rồi đầu tư toàn bộ con giống, thức ăn và kỹ thuật giúp bà Hồng. Thật mừng kết thúc vụ 1/2009, 2 hồ tôm của bà Hồng đã thắng lợi. Bán xong tôm bà Hồng vừa hoàn lại vốn và công cho ông Đức vừa trả được nợ ngân hàng 250 triệu đồng vừa giành đủ tiền đầu tư cho vụ tôm mới.


Năm 2000, bà Nguyễn Thị Lương, trú tại khối 5, thị trấn Giát, xuống Quỳnh Phương thuê 7,2 ha đất làm hồ nuôi tôm công nghiệp cũng ăn nên, làm ra từ con tôm he. Bà Phương cho biết: "Nói thật với anh, con tôm he đã giúp tôi làm giàu. Hiện tôi đã mua được 3 căn nhà cho 3 đứa con tại Hà Nội, có ô tô 4 chỗ, nhà cửa khang trang, cuộc sống dư giả đều xuất phát từ con tôm cả đấy. Tôi thuê 7,2 ha đất nhưng chỉ làm 3,5 ha hồ tôm, từ năm 2007 đến nay, nhờ nuôi tôm he công nghiệp 4 năm nay mà tôi thu lãi ròng khoảng 700 - 800 triệu đồng/năm".


Anh Thái Hữu Lộc, người đầu tiên đưa tôm he về vùng Cửa Hội (TX Cửa Lò) cũng cho biết: "Từ giữa năm 2007 đến nay, tôi nuôi 2 ha tôm he mật độ cao tại Cửa Hội đều đạt năng suất 20 tấn/ha/năm. Riêng vụ 1/2008, 8 ao tôm của tôi đã thu được 20 tấn, vụ 2 và vụ 3/2008 tôi thu thêm được 20 tấn nữa. Cả năm 2008, lãi ròng thu được từ 2 ha tôm được ngót nghét 1 tỷ đồng. Vụ 1/2009, trên 8 ao tôm cũng đã cho tôi 21 tấn tôm thương phẩm (10,5 tấn/vụ). Năm nay, tôi đang phấn đấu để giành năng suất trên 21 tấn/ha/năm. Năm nay giá bán cao hơn năm ngoái nên lãi ròng chắc chắn sẽ cao hơn năm 2008...".

Báo Nông nghiệp
(2009-10-22)

 

Kiên Giang phát triển nghề nuôi thủy sản

Email In PDF.

Kiên Giang phát triển nghề nuôi thủy sản

Với lợi thế đa dạng các vùng sinh thái, những năm qua, hàng loạt các mô hình nuôi trồng thủy sản ở Kiên Giang được hình thành, nổi bật như: tôm - lúa, cá lồng bè trên biển, tôm càng xanh, cua, sò..., góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của nông dân. Tuy nhiên, việc gắn kết giữa sản xuất với thị trường tiêu thụ thủy sản ở địa phương vẫn còn nhiều khó khăn cần tháo gỡ.

Con tôm và cây lúa


Vùng sinh thái U Minh Thượng gồm bốn huyện: An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng. Toàn vùng hiện có 65 nghìn ha đất áp dụng mô hình tôm - lúa, hằng năm thu hoạch hơn 20 nghìn tấn tôm, chiếm hơn 2/3 sản lượng tôm nuôi toàn tỉnh Kiên Giang. Cách đây gần mười năm, khi địa phương chưa quy hoạch mô hình con tôm ôm cây lúa, nhiều hộ dân trong vùng đã tự ý chuyển đổi đất sản xuất 1 - 2 vụ lúa mỗi năm sang mô hình sản xuất 1 vụ tôm - 1 vụ lúa. Từ đây, mâu thuẫn của người trồng lúa và người nuôi tôm đã xảy ra, và chính quyền địa phương, các ngành chức năng phải xử lý, hòa giải. Tuy nhiên, trước kết quả tốt của những mô hình mới và trước những khó khăn trong cuộc sống của những người trồng cây lúa, các địa phương chủ động quy hoạch và vận động người dân chuyển đổi diện tích đất nhiễm mặn thu hoạch vụ hè thu kém hiệu quả sang mô hình tôm - lúa. Hàng loạt các công trình thủy lợi được xây dựng để áp dụng mô hình sản xuất này. Chỉ tính riêng huyện An Biên, từ năm 2001 - 2005, diện tích áp dụng mô hình tôm - lúa tăng bình quân 178%/năm, sản lượng tăng hơn 400%/năm.


Ðồng chí Phạm Văn Hùng, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy An Minh cho biết: "Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, con tôm ôm cây lúa là bước đột phá không chỉ riêng huyện An Minh mà của toàn vùng U Minh Thượng. Ðất đai, thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, tập quán sản xuất... tất cả đều phù hợp với mô hình này". An Minh cũng là địa phương có diện tích nuôi tôm lớn nhất vùng với gần 35 nghìn ha, trong đó phần lớn diện tích áp dụng mô hình 1 tôm - 1 lúa. Sau hơn bảy năm áp dụng mô hình này, số hộ nghèo của huyện đã giảm đáng kể. Phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi ở An Minh phát triển mạnh, nông dân ở Năm Hắc, Năm Nước, Danh Thìn ở xã Vân Khánh Tây hay Út Hòa xã Ðông Hòa, Ba Tần xã Thuận Hòa... đã phất lên trở thành những điển hình trong sản xuất theo mô hình 1 tôm - 1 lúa cho cả vùng học tập. Ðồng chí Huỳnh Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thuận khẳng định: "Từ khi chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang mô hình tôm - lúa, mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo của huyện áp dụng mô hình này giảm mạnh, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo chung của Vĩnh Thuận từ 0,7 đến 0,85%/năm. Vụ tôm năm 2009, toàn vùng U Minh Thượng trúng đậm, trong đó Vĩnh Thuận đạt cao nhất với năng suất bình quân 320kg/ha".



Nuôi cá trên biển


Trong một chuyến đi thực tế tới các xã đảo ở Kiên Giang gần đây, chúng tôi thật sự bất ngờ trước sự phát triển nhanh của mô hình nuôi cá lồng bè trên biển ở đây, đặc biệt là ở đảo Hòn Mấu, Hòn Ngang (xã Nam Du), Hòn Củ Tron (xã An Sơn), Hòn Tre (xã Hòn Tre) huyện Kiên Hải; quần đảo Hải Tặc thuộc xã Tiên Hải, thị xã Hà Tiên hay quần đảo Bà Lụa, thuộc xã Sơn Hải, huyện Kiên Lương... Theo Chi cục Nuôi trồng thủy sản Kiên Giang: Năm 2005, toàn tỉnh chỉ có 131 lồng bè trên biển nuôi cá mú, cá bớp, với sản lượng khoảng 90 tấn/năm, thì đến năm 2008, số lồng bè nuôi cá đã tăng lên 546 lồng, với sản lượng 693 tấn/năm và hiện nay lên đến 925 lồng, sản lượng hơn 1.200 tấn/năm. Chỉ tính trong năm năm (2005 - 2009), số lồng bè nuôi cá trên biển ở Kiên Giang đã tăng hơn bảy lần và sản lượng thủy sản thu hoạch tăng hơn 13,3 lần. Kết quả này chứng tỏ, nghề nuôi cá lồng bè trên biển đang phát triển đúng hướng.


Một trong những huyện có phong trào nuôi cá lồng bè trên biển phát triển mạnh là huyện đảo Kiên Hải. Với 23 đảo lớn nhỏ hợp thành, Kiên Hải đã tận dụng rất tốt lợi thế này để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Ðồng chí Trần Thị Hồng, Phó Chủ tịch UBND huyện Kiên Hải cho biết: Nghề nuôi cá lồng bè xuất hiện rất sớm ở đây, nhưng mãi đến những năm 2005 - 2008 mới phát triển mạnh. Hiện nay toàn huyện có 141 hộ nuôi, với 375 lồng bè. Nhiều hộ dân ở xã Nam Du, An Sơn đã phất lên khá, giàu cũng từ mô hình nuôi cá lồng bè. Xã Nam Du đã thành lập được HTX dịch vụ và nuôi trồng thủy sản. Theo một công bố mới đây của các nhà khoa học, mặt nước quanh đảo Hòn Tre có khả năng nuôi cá lồng bè quanh năm. Ðây là tin vui cho rất nhiều hộ dân nơi đây. Vì theo đồng chí Trần Thị Hồng, trước đây ngư dân cho rằng, đảo Hòn Tre gần đất liền, nguồn nước sẽ ngọt vào mùa lũ nên hằng năm tạm ngưng nuôi từ tháng 6 đến tháng 10.


Kỹ sư Nguyễn Ngọc Phượng, Phó Giám đốc Sở NN và PTNT Kiên Giang cho rằng: Vùng biển Kiên Giang có thời tiết và khí hậu ít biến động, chất lượng môi trường nước tốt, thích hợp cho sinh vật biển phát triển, giống và nguyên liệu làm thức ăn cho cá cũng khá dồi dào, vì vậy đáp ứng được yêu cầu nuôi trồng của người dân. Và theo kế hoạch phát triển nuôi cá lồng bè trên biển của tỉnh đến năm 2015 Kiên Giang có 1.500 lồng bè, đạt sản lượng 2.000 tấn/năm.


Nỗ lực gắn sản xuất với thị trường


Cũng theo kỹ sư Nguyễn Ngọc Phượng, Kiên Giang đã hình thành bốn vùng sinh thái mà tiềm năng nuôi trồng thủy sản được duy trì nhiều năm nay. U Minh Thượng có thể phát triển đa dạng về chủng loại thủy sản: mặn, lợ, ngọt. Hằng năm, diện tích tôm - lúa là 65 nghìn ha, sản lượng thu hoạch 20 nghìn tấn; sò huyết 3.500 ha, sản lượng sáu nghìn tấn; cua biển khoảng hai nghìn ha, sản lượng ba nghìn tấn. Vùng tứ giác Long Xuyên với thế mạnh nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng, diện tích nuôi 1.500 ha, sản lượng 10 nghìn tấn. Vùng tây sông Hậu, gồm các loài cá nước ngọt, diện tích nuôi cá tra thâm canh và bán thâm canh ở huyện Tân Hiệp, Giồng Riềng là 100 ha, sản lượng đạt 10 nghìn tấn. Huyện Gò Quao, Giồng Riềng với lợi thế nước ngọt quanh năm sẽ phát triển nuôi tôm càng xanh trên diện tích 50 ha, sản lượng đạt 20 tấn/năm. Vùng biển và hải đảo tập trung nuôi cá lồng bè, chủ lực là cá mú, cá bớp, ghẹ, ốc hương, tôm hùm...


Thế mạnh là vậy, song tồn tại lớn nhất của Kiên Giang hiện nay là chưa xây dựng được vùng nguyên liệu thủy sản tập trung gắn với thị trường tiêu thụ. Vừa qua, tỉnh đã tổ chức hội thảo về chủ đề này. Tại hội thảo, nguyên nhân được xác định là do thiếu hụt nguồn giống bảo đảm chất lượng đối với những loài nuôi như: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá bớp, cá mú sao, mú đen, cá tra... phải nhập từ miền trung về, trong khi các cơ sở sản xuất giống tại chỗ chỉ đáp ứng được 15 - 20% nhu cầu. Chi phí tăng cao, hiệu quả nuôi giảm và thị trường tiêu thụ không ổn định nên nông dân thường xuyên gặp cảnh "được mùa - mất giá". Hiện nay, các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn Kiên Giang chỉ thu mua và đưa vào sản xuất khoảng 15% nguồn nguyên liệu thu hoạch từ các vùng nuôi. Sản lượng còn lại "chạy" sang các doanh nghiệp ngoài tỉnh như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, TP Hồ Chí Minh... "Với 17 công ty, 21 nhà máy hiện có, nhưng năng lực chế biến đối với mặt hàng tôm của Kiên Giang chỉ đạt 10% công suất thiết kế, vì vậy kim ngạch xuất khẩu thủy sản nhiều năm qua không đạt kế hoạch" - đồng chí Nguyễn Văn Bấu nói.


Trên cơ sở những đánh giá, phân tích và những cứ liệu khoa học, Kiên Giang xây dựng năm vùng nuôi trồng thủy sản gắn với thị trường tiêu thụ là phù hợp. Ngoài bốn vùng sinh thái đã hình thành, tỉnh sẽ quy hoạch huyện Tân Hiệp thành vùng nuôi cá da trơn. Trong quá trình thực hiện sẽ tập trung xây dựng dự án sản xuất giống thủy sản tập trung ở Phú Quốc. Ðẩy mạnh tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về nuôi trồng thủy sản cho người nuôi; xây dựng các mô hình trình diễn có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định. Bên cạnh đó, tỉnh tập trung chỉ đạo các ngành đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản, mở rộng thị trường nội địa nhằm tiêu thụ hết sản phẩm thủy sản cho nông dân, ngư dân.

Báo Nhân Dân
(2009-10-22)

 

Ba Bể: Chú trọng phát triển cây hồng không hạt

Email In PDF.

Hồng ngâm Ba Bể với độ giòn, độ ngọt đậm, cùng với mùi thơm đặc trưng đã tạo nên “thương hiệu” cho hồng không hạt Bắc Kạn và loại cây này đang mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho người dân huyện Ba Bể.

Theo thống kê của ngành chức năng huyện Ba Bể, hiện nay toàn huyện có khoảng gần 200 ha hồng không hạt được trồng rải rác ở tất cả các địa phương, với sản lượng quả ước đạt 1.000 tấn/năm, mang lại nguồn thu hàng chục tỷ đồng cho người dân trong huyện. Ông Nông Văn Tiến – Phó Chủ tịch UBND xã Hà Hiệu (Ba Bể) cho biết: Tuy được trồng tự phát cách đây nhiều năm, nhưng trên 20 ha hồng không hạt đã mang lại nguồn lợi đáng kể cho các hộ dân, với giá bán trung bình 10.000 đồng/kg, 1 ha hồng không hạt cho thu nhập khoảng 40 – 50 triệu đồng/ha, cao hơn rất nhiều lần so với cấy lúa (chi phí trồng và chăm sóc hồng không hạt không tốn kém). Thấy được giá trị kinh tế từ cây hồng không hạt, người dân trong xã có xu hướng mở rộng diện tích hồng không hạt và cải tạo diện tích bị cằn cỗi, thậm chí một số hộ còn phát triển cây hồng không hạt với quy mô trang trại như, hộ ông Đàm Văn Vụ trồng hơn 1 ha, thu hoạch khoảng 5 tấn quả/năm.


Trong chiến lược phát triển nông – lâm nghiệp đến năm 2015 và tầm nhìn năm 2020, huyện Ba Bể coi hồng không hạt là một trong những loại cây trồng góp phần giúp người dân xoá đói, giảm nghèo. Vì thế, từ năm 2007 cho tới nay, đặc biệt là từ khi có Quyết định 1157/QĐ - UBND, ngày 25/06/2008, của UBND tỉnh về phê duyệt Dự án Quy hoạch vùng sản xuất cây hồng không hạt Bắc Kạn giai đoạn 2007 – 2015, với tổng diện tích 1.200 ha, trên địa bàn các huyện Chợ Đồn, Ba Bể và Ngân Sơn thì việc cải tạo và phát triển diện tích hồng không hạt được thực hiện mạnh mẽ. Huyện đã phối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh và Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội tập huấn kỹ thuật, cung cấp cây hồng không hạt giống cho người dân. Trung bình mỗi năm Ba Bể cải tạo và trồng mới được 20 – 30 ha hồng không hạt, tuy nhiên kết quả này còn thấp so với yêu cầu đặt ra. Nguyên nhân của thực trạng trên là do chính quyền một số địa phương chưa vào cuộc mạnh mẽ để tuyên truyền, vận động bà con chuyển đổi diện tích vườn tạp sang trồng hồng không hạt có hiệu quả kinh tế cao hơn. Đi cùng với các biện pháp nhằm mở rộng diện tích thì huyện Ba Bể còn quan tâm tìm đầu ra cho sản phẩm. Thông qua các hội nghị, hội thảo, hội thi đánh giá chất lượng hồng không hạt và các cuộc triển lãm trong và ngoài tỉnh thì hồng không hạt của huyện Ba Bể nói riêng, tỉnh ta nói chung đã được giới thiệu, quảng bá và khẳng định chất lượng của mình. Điều này giải thích vì sao giá hồng không hạt ở Ba Bể năm nay cao hơn và dễ tiêu thụ hơn so với những năm trước. Bà Nguyễn Thị Duyên – một thương nhân thu mua hồng tại Ba Bể cho biết: So với hồng không hạt ở Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và một số địa phương khác ở đồng bằng sông Hồng thì chất lượng hồng không hạt của Bắc Kạn không thua kém. Nhiều khách hàng ở Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng…đã biết đến “tiếng” hồng không hạt Bắc Kạn nên việc tiêu thụ loại trái cây đặc sản này thời gian gần đây rất thuận lợi.


Nói về định hướng phát triển cây hồng không hạt ở huyện Ba Bể trong thời gian tới, bà Đỗ Thị Minh Hoa – Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: Cùng với cam quýt thì hồng không hạt được huyện coi là thế mạnh trong phát triển cây ăn quả trở thành hàng hoá của mình. Để thực hiện được điều này huyện sẽ quan tâm đầu tư giúp người dân cải tạo giống hồng cũ, mở rộng diện tích hồng không hạt lên gấp đôi, gấp ba so với hiện tại trong vòng 5 năm tới; nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của loại cây trồng này; cũng như có biện pháp giữ gìn, bảo vệ nguồn gen hồng không hạt quý hiếm; cùng với các địa phương khác tăng cường quảng bá thương hiệu hồng không hạt Bắc Kạn cho người tiêu dùng được biết.

Báo Bắc Cạn
(2009-10-22)

 

Yên Phong mở rộng diện tích khoai tây đông

Email In PDF.

Yên Phong mở rộng diện tích khoai tây đông

Vụ đông năm nay, huyện Yên Phong lên kế hoạch trồng 350 ha cây khoai tây, tăng hơn vụ đông năm ngoái 111,7 ha, năng suất đạt 190 tạ/ha, tăng hơn 42 tạ. Đây là quyết tâm rất lớn của Yên Phong.

Vụ đông năm 2008, Yên Phong trồng 238,3 ha khoai tây, phần lớn diện tích vẫn là giống khoai Trung Quốc. Những tháng đầu vụ có nhiệt độ trung bình cao, thời tiết thất thường gây khó khăn cho việc trồng, chăm sóc và ảnh hưởng đến sinh trưởng cây khoai tây. Từ thực tế trên để chủ động trồng cây khoai tây, vụ đông năm nay, Yên Phong đã chỉ đạo, các địa phương phối hợp với xí nghiệp thuỷ nông có kế hoạch rút nước để tập trung thu hoạch lúa mùa nhanh gọn tạo điều kiện cho việc làm đất và chuẩn bị tiêu úng khi có mưa sớm xảy ra.


Năng suất khoai tây bình quân vụ đông năm 2008 ở Yên Phong đạt 148 tạ/ha, tăng hơn năm trước 6 tạ/ha. Những diện tích trồng khoai tây chất lượng cao có nguồn gốc từ châu Âu, như Atlantic, Solara, thời vụ trồng xung quanh ngày 10-11, cuối vụ gặp đợt rét kéo dài thuận lợi cho tích luỹ dinh dưỡng vào củ nên năng suất bình quân đạt 166 tạ/ha. Một số HTX có nhiều diện tích giống khoai trên đạt năng suất bình quân 180 tạ/ha, riêng HTX Nguyệt Cầu đạt 200 tạ/ha, Vọng Nguyệt đạt 189 tạ. Trong huyện đã hình thành một số vùng chuyên canh khoai tây với diện tích khá lớn, như Xuân Cai 27 ha, Như Nguyệt 15 ha, Vọng Nguyệt, Trần Xá, mỗi nơi 8 ha, Nguyệt Cầu 5 ha. Nhờ vậy có điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đem lại năng suất cao và giá thành hạ. Rút kinh nghiệm các năm trước đây, ngay vụ đông năm 2008, Yên Phong đã chỉ đạo HTX Vọng Nguyệt dành 5 ha, Trác Bút 3 ha để sản xuất khoai tây giống Solara của Đức, năng suất bình quân đạt trên 230 tạ/ha và 45 tấn khoai giống được bảo quản trong kho lạnh. Ngoài ra, để chọn được giống khoai có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với tiêu chuẩn chế biến và nhằm từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất khoai tây thương phẩm phục vụ chế biến, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông huyện đã khảo nghiệm một giống nhập nội từ Hàn Quốc, thí nghiệm về phân bón, mật độ, thời vụ, chế độ nước. Bước đầu cho kết quả tốt, có thể áp dụng vào sản xuất trong vụ đông này. Đồng thời, Yên Phong có kế hoạch tập trung quy vùng sản xuất các giống khoai tây năng suất cao, đầu ra ổn định như Alantic, Solala, Mariella... Chỉ đạo các địa phương nghiêm ngặt về thời vụ đối với từng loại giống, như các giống KT2, KT3 trồng trước ngày 15-10, các giống Damant, Solara, Mariella, Atlantic... nên trồng trà chính vụ và muộn, từ ngày 15-10 đến ngày 15-11.


Những năm gần đây, để khuyến khích nông dân mở rộng diện tích và thâm canh cây khoai tây, ngoài hỗ trợ giống, phân bón, vùng sản xuất, kinh phí tập huấn kỹ thuật, bảo ôn kho lạnh v.v..., Huyện uỷ, UBND huyện Yên Phong chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn quan hệ với Viện Sinh học nông nghiệp, Công ty TNHH thực phẩm ORION Việt Nam tại khu công nghiệp Yên Phong, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm đối với các HTX sản xuất khoai tây Atlantic có quy mô tập trung từ 3 ha trở lên với giá thấp nhất là 3.500 đồng/kg. Để giảm chi phí đầu vào và tạo điều kiện cho nông dân mở rộng diện tích trồng khoai tây thương phẩm, Công ty đã ứng trước theo phương thức 1 kg khoai giống trả 3 kg khoai thương phẩm khi thu hoạch. Nhờ vậy, vụ đông năm 2008, các HTX đã giao cho Công ty 230 tấn khoai thương phẩm với giá tại ruộng 3.600 đồng/kg, trong khi giá khoai Trung Quốc tại thị trường là 1.800 đồng/kg. Đây là sự kết hợp hài hoà, sáng tạo giữa 4 nhà để phát triển nông nghiệp ở Yên Phong. Mô hình này được Yên Phong phát triển thêm một bước trong việc tiêu thụ khoai tây vụ đông năm nay.

Báo Bắc Ninh
(2009-10-21)

 

Lào Cai: Làm vườn thời hội nhập

Email In PDF.

Là đơn vị có số lượng hội viên đông đảo, những năm gần đây, Hội Làm vườn (HLV) Lào Cai đã có nhiều đóng góp trong việc giúp bà con nông dân xóa đói giảm nghèo và làm giàu. Không chỉ dừng lại với vườn cây, ao cá mà trên mảnh đất giàu tiềm năng này còn “nở rộ” nhiều mô hình kinh tế mới cho hiệu quả cao như VAC-B (vườn, ao, chuồng, biogas), VAC-D (vườn, ao, chuồng, du lịch sinh thái)..., thể hiện tính sáng tạo của người làm vườn trong thời hội nhập.

Những hội viên năng động


Mỗi lần nhìn ngắm đàn lợn đang tranh nhau ăn, con nào cũng khỏe mạnh, ông Trần Văn Dũng ở thôn Sả Hồ (xã Phong Niên - Bảo Thắng) lại mỉm cười hài lòng và thầm cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ HLV Lào Cai. Nhà ông hiện nuôi vài chục con lợn siêu nạc, cho thu nhập 30 - 40 triệu đồng /năm. Ngoài ra, ông còn đào ao nuôi lươn, trồng các loại cây ăn quả như nhãn, vải, hồng.


Trước đây, gia đình ông Dũng cũng như nhiều hộ khác ở Sả Hồ, khi nuôi lợn thường tập kết phân, nước thải vào một hố chung để lộ thiên nên thường bốc mùi khó chịu, tập trung nhiều ruồi muỗi, ảnh hưởng tới môi trường sống. Được HLV Lào Cai tư vấn, ông Dũng xây hầm biogas để xử lý lượng phân lợn, nước thải, đồng thời có nhiên liệu để đun nấu, thắp sáng. “Điều thú vị nhất là tôi học được cách tận dụng bã thải từ hầm biogas, kết hợp với chế phẩm sinh học Bicat, Bivac, Emoni để làm ra phân hữu cơ vi sinh rất tốt cho rau màu, cây ăn quả, có thể giảm tiền mua phân bón 3 - 4 triệu đồng/năm”, ông Dũng nói.


Còn ông Phạm Thanh Xuân ở bản Lúc (Bảo Hà - Bảo Yên) thì nổi tiếng là thương binh giàu nghị lực và sáng tạo. Với tổng diện tích đất sản xuất 15,5ha, ông quy hoạch thành trang trại VAC tổng hợp, trong đó 11,4ha trồng cây ăn quó, 4ha trồng cây lâm nghiệp và 0,1ha nuôi ba ba. Ngoài ra, ông còn nuôi gần 450 đàn ong mật. Nhờ đó, trang trại của ông luôn cho thu nhập cao, khoảng 300 - 350 triệu đồng/năm. Không dừng lại ở việc làm vườn, ông Xuân quyết định tiến xa hơn, tuy mạo hiểm nhưng hứa hẹn nhiều thành công, đó là thành lập Công ty TNHH Phát triển Ong miền núi Thanh Xuân (năm 2008) và tập trung xây dựng thương hiệu “Mật ong Thanh Xuân”.


Chia sẻ với chúng tôi, ông Xuân nói: “Người ta bảo làm nông nghiệp chủ yếu lấy công làm lãi, nhưng tôi không nghĩ thế. Trong thời buổi công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông dân cũng cần nâng cao trình độ, tiếp cận và mạnh dạn ứng dụng cách làm mới. Xây dựng mô hình VAC tổng hợp không quá khó, cái chính là làm thế nào để có sản phẩm tốt, đảm bảo chất lượng, năng suất cao, giá thành thấp thì mới có lãi. Đặc biệt là liên kết với nhau để đưa sản phẩm nông sản tiêu thụ rộng rãi trên thị trường”.


Sức mạnh từ phong trào VAC


Phải thừa nhận, những nhân tố, điển hình mới như ông Dũng, ông Xuân ở Lào Cai không đếm xuể. Trong bản danh sách tổng kết những điển hình tiên tiến làm kinh tế VAC giỏi của tỉnh mà ông Nguyễn Tiến Khoát, Phó chủ tịch Thường trực HLV tỉnh Lào Cai đưa cho chúng tôi xem còn dài hơn nữa. Hiện, toàn tỉnh có 460 hộ sản xuất theo mô hình trang trại VAC. Đã có 398 hộ được cấp giấy chứng nhận trang trại đạt tiêu chí, trong đó có 150 người là thành viên của CLB các chủ trang trại tỉnh Lào Cai, hoạt động tại 16 chi Hội. Mô hình trang trại ở đây góp phần khơi dậy tiềm năng, thế mạnh về đất đai, mặt nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi theo hướng đa dạng, hiệu quả.


Nói như vậy để thấy rằng, sức lan toả từ phong trào phát triển kinh tế VAC do Trung ương HLV Việt Nam khởi xướng rất hiệu quả. Ông Khoát nhấn mạnh: “Kinh tế VAC, kinh tế trang trại ở Lào Cai những năm qua thực sự trở thành phong trào quần chúng, mang lại những lợi ích và hiệu quả thiết thực. Thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến tài liệu, tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nông dân và hội viên ngày càng đam mê nghề vườn, hăng hái tham gia tổ chức Hội. Minh chứng cho những điều này chính là con số 3.500 hội viên hoạt động ở gần 100 chi Hội (năm 2003 mới có 1.070 hội viên, hoạt động ở 16 chi Hội); các đơn vị, tổ chức thành viên như CLB nuôi ong, HTX dệt may thổ cẩm - lắp đặt hầm biogas, CLB sinh vật cảnh, CLB các chủ trang trại hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, phong trào làm kinh tế VAC, kinh tế trang trại ở Lào Cai đã góp phần xoá đói, giảm nghèo (năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 21%), nhiều nông dân đã trở nên khá - giàu”.


Thành quả mà HLV Lào Cai đạt được còn thể hiện ở những bằng khen, giấy khen, danh hiệu mà các cấp, ngành trao tặng. Hy vọng rằng, trong nhiệm kỳ tới (2009 - 2014), vai trò, vị thế của Hội ngày càng được nâng cao.

Kinh tế nông thôn
(2009-10-21)

 

Cách phòng trị sâu tơ hại rau cải

Email In PDF.

Cách phòng trị sâu tơ hại rau cải

Sâu tơ là loài sâu hại nguy hiểm nhất đối với các loại rau cải, súp lơ... Con trưởng thành dài 6-7mm, sải cánh rộng 14-15mm, màu nâu xám, trên cánh trước mỗi cánh có 3 dấu hình tam giác màu nâu nhạt. Khi đậu, cánh úp sát thân như hình mái nhà, các vết hình tam giác ở cánh trước tụ lại nhìn óng ánh như kim cương. Mỗi con cái có thể đẻ từ 50-400 trứng.

Sâu non hình ống, màu xanh nhạt. Khi mới nở, sâu gặm lá để ăn thành các đường rãnh, mới nhìn giống như những rãnh do dòi đục lá gây ra. Đến tuổi 2-3, sâu ăn ở mặt dưới của lá để lại biểu bì tạo thành các lỗ thủng mờ. Ở tuổi cuối, sâu ăn thủng lá.


Muốn phòng trừ sâu tơ hiệu quả, cần áp dụng kết hợp nhiều biện pháp một cách hài hoà và hợp lý trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp. Sau đây là một số biện pháp chính:


- Sau khi thu hoạch phải dọn sạch tàn dư của cây, đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy hoặc ủ làm phân bón để tiêu diệt trứng, sâu non...


- Nên trồng xen thêm một số loại rau có mùi khó chịu như cà chua, hành, tỏi... để xua đuổi con trưởng thành đến đẻ trứng.


- Nên tưới rau bằng vòi phun mưa vào buổi chiều mát để ngăn cản việc giao phối của con trưởng thành và rửa trôi bớt trứng, sâu non.


- Sau một vài vụ trồng các loại rau cải nên luân canh vài loại rau màu khác.


- Trước khi bứng cây ra trồng nên phun một đợt thuốc trên vườn ươm hoặc nhúng cây con vào dung dịch thuốc trừ sâu để tiêu diệt sâu, nhộng, trứng đang tồn tại trên cây giống.


- Thường xuyên kiểm tra ruộng, khi thấy mật số sâu tơ tăng nhanh phải phun thuốc diệt trừ kịp thời.


Sâu tơ có khả năng kháng thuốc rất nhanh, vì thế để giảm bớt áp lực kháng thuốc của sâu, bà con phải sử dụng luân phiên nhiều loại thuốc như: Sec Saigon 5ME hoặc 10ME, Sherzol 205EC, Sapen-Alpha 5EW... Để hạn chế tính kháng thuốc, có thể sử dụng những chế phẩm sinh học như: Biocin 16WP hoặc 8000SC, Olong 55WP, Bacterin BT-WP, Xentari 35WDG...

Kinh tế nông thôn
(2009-10-21)

 
Trang 176 trong tổng số 328

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video