Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Kiên Giang phát triển mô hình nuôi tôm càng xanh

Email In PDF.

Kiên Giang phát triển mô hình nuôi tôm càng xanh

Nuôi tôm càng xanh luân canh với vụ lúa đông xuân là mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phá thế độc canh cây lúa, tăng lợi nhuận trên cùng đơn vị diện tích đã được nhiều hộ dân ở hai huyện Giồng Riềng và Gò Quao (Kiên Giang) áp dụng trong nhiều năm qua. Vụ tôm năm nay, hầu hết các hộ nuôi đều trúng mùa, trúng giá, lợi nhuận gấp 3 lần năm trước. Đây là tín hiệu vui để tỉnh Kiên Giang nhân rộng mô hình này thời gian tới.

Sau khi thu hoạch vụ đông xuân, ông Đặng Hoàng Sơn ngụ ấp Hòa A, xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng, thả nuôi 160 nghìn con tôm càng xanh giống trên diện tích 2 ha đất. Nhờ nắm vững những kiến thức từ lớp tập huấn do Trung tâm Khuyến nông- khuyến ngư tỉnh tổ chức và những kinh nghiệm qua nhiều năm nuôi thực tế nên năm nay ông Sơn trúng đậm vụ tôm. Ông Sơn cho biết, vụ tôm năm nay, thời gian thu hoạch rút ngắn hơn 1 tháng, kích cỡ tôm lớn đồng đều nên sản lượng đạt gần 1 tấn/ha. Với giá bán tại ruộng 100.000 đồng/kg, vụ tôm này, ông Sơn thu nhập gần 200 triệu đồng. Không chỉ trúng mùa, trúng giá, vụ tôm này ông Sơn còn được Trung tâm Khuyến nông- khuyến ngư tỉnh hỗ trợ 40% tiền con giống, 20% tiền giá trị mua thức ăn và được vay vốn tín dụng từ nguồn vốn Quốc gia hỗ trợ việc làm nên ông Sơn thu lợi nhuận từ con tôm đạt gần 80 triệu đồng.


Cũng như ông Sơn, một số hộ khác như ông Đặng Quốc Việt, Nguyễn Hồng Liên… ngụ cùng ấp cũng thu nhập từ 40 đến 50 triệu/ha. Theo tính toán của ông Sơn, nếu làm lúa hè thu mỗi ha trúng lắm cũng chỉ lời khoảng 5 triệu đồng, nhưng rất cực, còn thay vụ lúa bằng vụ tôm càng xanh không chỉ hiệu quả kinh tế đạt cao gấp 6, 7 lần trồng lúa mà còn nhàn rỗi hơn trong khâu thu hoạch và dễ dàng tiêu thụ sản phẩm.


Đồng chí Nguyễn Văn Cơ, Phó Chủ tịch UBND huyện Giồng Riềng cho biết: Phong trào nuôi tôm càng xanh thay cho vụ lúa hè thu đã được nông dân một số xã của huyện Giồng Riềng áp dụng từ năm 2007, với diện tích khoảng 20ha/năm. Tuy nhiên do trước đây mô hình này còn mới mẻ, nông dân còn hạn chế về kỹ thuật nên năng suất không ổn định, bình quân chỉ khoảng 800kg/ha. Năm 2009, toàn huyện Giồng Riềng cũng chỉ có khoảng gần 20 hộ áp dụng mô hình này với gần 20ha đất tập trung chủ yếu ở ấp Hòa A, xã Hòa Lợi và ấp Hòa Sơn, xã Hòa Thuận. “Do địa hình ở những nơi đây trũng và chịu ảnh hưởng lớn bởi lượng nước lũ đổ về hàng năm nên ngập sâu từ tháng 7 đến tháng 11. Nếu sản xuất vụ lúa hè thu thì hiệu quả đạt cũng không cao. Nhưng yếu tố lý hóa vùng này lại rất phù hợp với việc nuôi tôm càng xanh vì vậy quy hoạch vùng này thành vùng nuôi loài thủy sản này là hợp lý nhất” - đồng chí Nguyễn Văn Cơ nói.


Cũng giống như Giồng Riềng, huyện Gò Quao cũng có môi trường sinh thái tương tự. Với hệ thống thủy lợi cơ bản hoàn chỉnh, địa bàn có nhiều kênh rạch chằng chịt, có dòng Cái Lớn, Cái Bé bao quanh tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân phát triển mô hình nuôi thủy sản. Năm 2007, nhiều hộ dân ở hai xã Vĩnh Thắng và Vĩnh Tuy đã áp dụng mô hình nuôi tôm cành xanh trên ruộng lúa. Tuy diện tích nuôi chỉ hơn 40ha và hiệu quả kinh tế không bằng ở huyện Giồng Riềng, nhưng nếu so sánh vụ tôm càng xanh với vụ lúa hè thu thì hiệu quả kinh tế vụ tôm vẫn cao hơn rất nhiếu.


Từ hiệu quả bước đầu, huyện Giồng Riềng và Gò Quao đã xây dựng đề án phát triển nuôi tôm càng xanh tập trung giai đoạn từ nay đến năm 2015. Theo đó, Giồng Riềng sẽ phát triển diện tích lên đến 630 ha, Gò Quao thì khiêm tốn hơn với khoảng 80ha. Tuy nhiên, để mô hình sản xuất này vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa bền vững, trước mắt hai địa phương này cần tháo gỡ các khó khăn. Trong đó cốt lõi vẫn là việc đầu tư kiến thiết cơ sở hạ tầng vùng quy hoạch, kiên cố hóa hệ thống bờ bao và thủy lợi nội đồng phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất. Mặt khác ngoài việc tìm hợp đồng bao tiêu sản phẩm, người nuôi cũng rất cần được tiếp cận nhanh các nguồn vốn vay ưu đãi vì nuôi tôm đòi hỏi vốn đầu tư rất cao. Trong những khó khăn, ngoài nỗ lực quyết tâm của địa phương, vẫn còn một số vấn đề nằm ngoài khả năng cấp huyện.


Đồng chí Nguyễn Văn Cơ cho rằng: Để đẩy nhanh tiến độ sản xuất vùng quy hoạch, huyện đang gấp rút kiến nghị tỉnh mở rộng vùng quy hoạch, cho xây dựng các cống máng để bơm tập trung chủ động nguồn nước, đồng thời đề nghị hạ thế nguồn điện để hạn chế chi phí bơm tưới. Riêng nguồn vốn vay tín dụng, đồng chí đề nghị thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ, cho nông dân vay từ 50 triệu trở xuống không phải thế chấp tài sản, áp dụng lãi suất 0,65%/tháng.


Đồng chí Nguyễn Ngọc Phượng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cho biết: Trong định hướng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản của tỉnh đến năm 2015, Kiên Giang sẽ xây dựng 5 vùng nuôi thủy sản, trong đó quy hoạch vùng nuôi tôm càng xanh tại hai huyện Giồng Riềng và Gò Quao. Theo đó, tỉnh sẽ gấp rút hoàn chỉnh các quy hoạch, dự án; đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, vùng sản xuất giống thủy sản tập trung; tổ chức tập huấn kỹ thuật có trọng tâm, trọng điểm, tiếp tục xây dựng các điểm trình diễn giới thiệu quy trình, kỹ thuật tiên tiến; phối hợp với ngành ngân hàng giải quyết cơ chế, chính sách cho nông dân vay vốn; nâng cao công tác tiếp thị sản phẩm, mở rộng thị trường tiên thụ…

Báo Nhân dân Điện tử
(2009-11-17)

 

Hải Dương: Tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất vụ đông

Email In PDF.

Những năm gần đây, nông dân Hải Dương đã tích cực ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, biện pháp canh tác, phân bón, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cây vụ đông.

Nông dân nhiệt tình hưởng ứng


Vụ đông năm nay, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hải Dương tiếp tục thực hiện đề tài “áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cây dưa hấu trên địa bàn tỉnh” trên quy mô 20 sào (1 sào Bắc Bộ = 360m2) tại xã Kim Tân (huyện Kim Thành). Các giống dưa hấu mới được khảo nghiệm gồm: TN755, TN386 và Super Taison 052; giống đối chứng là Hưng Nông 108. ông Nguyễn Văn Uyên, nông dân tham gia mô hình khẳng định: “Các giống dưa hấu mới có nhiều ưu điểm nổi trội hơn giống đối chứng như khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ thụ phấn thành quả cao”. Theo báo cáo của ban chủ nhiệm đề tài, các giống dưa hấu mới trồng ở vụ đông sớm có thể cho năng suất cao hơn giống đối chứng 2,8 - 5,6 tấn/ha.


Hiện nay, hầu hết nông dân Hải Dương đều mua hạt giống F1 để gieo trồng, thay thế cách để giống từ vụ này sang vụ khác như trước kia. Điều đó giúp bảo đảm chất lượng và giảm hao hụt hạt giống. Nhiều nông dân tích cực gieo trồng các giống rau màu mới, góp phần làm phong phú cơ cấu cây trồng vụ đông; chủng loại giống đa dạng giúp bà con có điều kiện lựa chọn sản phẩm chất lượng.


Cơ quan chức năng linh hoạt


Một số kỹ thuật mới cũng được nông dân Hải Dương tích cực áp dụng. Biện pháp làm đất tối thiểu với ngô, bí xanh, đậu tương là một ví dụ. Trong vụ đông, nếu trời mưa nhiều, đất ướt sẽ gây khó khăn cho việc làm luống, áp dụng phương pháp làm đất tối thiểu là giải pháp khả thi. Năm 2008, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương đã phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Thanh Miện thực hiện phương pháp làm đất tối thiểu đối với cây ngô. Biện pháp này áp dụng trên những chân ruộng ướt, không cần làm luống, chỉ thực hiện một số thao tác như: đào rãnh thoát nước, đặt bầu cây, bón phân, phủ rạ xung quanh. So với việc làm luống thông thường, phương pháp này giúp giảm công làm đất, làm cỏ, cây khỏe, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng. Vụ đông năm nay, nông dân Thanh Miện tích cực mở rộng diện tích làm đất tối thiểu với hơn 150ha ngô.


Nông dân ở nhiều nơi còn tranh thủ thời vụ gieo trồng bằng biện pháp đặt bầu cây (ngô, bí xanh) trước trên ruộng. Theo đó, khi lúa bắt đầu đỏ đuôi, người dân vạch thành từng hàng rồi đặt bầu trước ở những hàng đó. Sau khi gặt lúa, cây đã phát triển được một thời gian, bà con chỉ cần áp dụng làm đất tối thiểu là hoàn thành khâu làm đất và gieo trồng.


Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vụ đông là giải pháp đột phá để tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, khi triển khai còn gặp không ít khó khăn: lực lượng lao động trẻ trực tiếp làm vụ đông ít; trình độ, khả năng tiếp nhận cách làm mới của người dân cũng có sự phân hóa theo vùng. Chính vì vậy, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng vùng, địa phương, từng đối tượng, để có những cách làm phù hợp, hiệu quả. Cách thức chuyển giao phải trực quan, dễ hiểu, thực hiện các mô hình cụ thể để bà con làm theo. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần đề ra chính sách hỗ trợ những địa phương, nông dân mạnh dạn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

Kinh tế nông thôn
(2009-11-17)

 

Phú Yên: anh nông dân làm giàu từ trồng trọt, chăn nuôi

Email In PDF.

Qua giới thiệu của các anh trong Ban chủ nhiệm HTX/NN Hoà Thành Tây - huyện Đông Hòa, trong một lần về công tác ở đây chúng tôi đã có dịp tiếp xúc với anh Trình Xí, năm nay 55 tuổi, ở thôn Phước Bình Bắc là một trong những hộ nông dân trồng trọt và chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần xóa đói giảm nghèo ở địa phương.

Đọc thêm...
 

Một nông dân làm kinh tế giỏi

Email In PDF.

Về khu 2- thị trấn Thanh Ba hỏi thăm ai cũng biết gia đình anh Nguyễn Hữu Viết, bởi đây là tấm gương tiêu biểu trong phong trào thi đua "Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi và hộ nghèo vượt khó", do các cấp hội nông dân phát động. Từ một hộ nông dân được coi là nghèo khó, song với quyết tâm, nghị lực và tinh thần học hỏi, vươn lên dám nghĩ, dám làm, gia đình anh không những vượt qua đói nghèo mà còn vươn lên trở thành giàu có.

Đọc thêm...
 

Bạn bảo quản hoa quả ra sao?

Email In PDF.

Quả phải tươi ngon, không xây xát. Có thể kiểm tra bằng cách cấu vào cuống và ngửi. Nếu cuống có mùi thơm, có tinh dầu nghĩa là quả tươi và không chất bảo quản.

Để hoa quả tươi ngon và giữ được những chất dinh dưỡng tốt nhất cho cơ thể. Bạn cần phải biết cách bảo quản hoa quả, từ khi chọn mua cho đến lúc mang về nhà.

Chọn quả


Khâu này đặc biệt quan trọng nếu bạn muốn bảo quản quả được lâu. Nếu chọn quả không đạt chất lượng thì dù kỹ thuật bảo quản có chuẩn đến đâu cũng không giữ được quả thơm ngon trong thời gian dài. Với từng loại quả bạn phải có sự hiểu biết và kỹ thuật chọn riêng nhưng dựa trên nguyên tắc chung:


- Quả phải tươi ngon, không xây xát. Có thể kiểm tra bằng cách cấu vào cuống và ngửi. Nếu cuống có mùi thơm, có tinh dầu nghĩa là quả tươi và không chất bảo quản.


- Quả chín vàng và cầm chắc tay. Không nên chọn những quả xanh và nắn mềm tay là quả non, được thu hái sớm để cất giữ được lâu. Những quả chín vàng, rắn là quả dưới gốc nên ngon, ngọt hơn…

Cách bảo quản tại nhà


- Quả sau khi được chọn lựa kỹ được rửa sạch dưới vòi nước chảy. Tốt nhất nên dùng vòi có tia nhỏ, mạnh phun thẳng vào quả khiến chất bẩn và vi khuẩn nằm trên vỏ quả rơi ra.


- Ngâm quả trong nước muối trong khoảng 5 phút (không ngâm lâu vì làm biến đổi chất trong quả).


- Dùng vải mềm rửa sạch phần núm quả vì đây là nơi vi khuẩn, nấm mốc xâm nhập vào quả gây hỏng, thối sớm.


- Dùng quạt mát làm khô quả thật nhanh trong vòng vài phút.


- Gói quả thật kín trong túi ni- lông và cho vào ngăn mát tủ lạnh khoảng 15oC.


Lưu ý:


- Một số người có thói quen dùng vôi bột bôi vào núm quả. Cách làm này ngăn được vi khuẩn xâm nhập nhưng chỉ kéo dài vài ngày, khi vôi bột khô sẽ hết tác dụng.


- Đối với những quả để trên bàn thờ thắp hương thì không thể để được lâu vì khói hương làm chín quả nhanh.


- Một số gia đình dùng nước ozôn để bảo quản rau quả và yên tâm tuyệt đối nhưng thực chất, nước ozôn có tác dụng phân hủy một số chất và cũng tác dụng với một số chất khác gây độc hơn. Trong khi đó, chúng ta hoàn toàn không biết rau quả được phun loại thuốc trừ sâu nào, có những chất độc nào. Vì thế, lời khuyên tốt nhất là nên dùng nước muối để ngâm rửa.


- Không nên để hoa quả trong ngăn đá hoặc ở nhiệt độ quá lạnh vì khi đưa ra nhiệt độ thường, quả sẽ nhanh chín, nhanh hỏng hơn.


- Nếu có điều kiện, nên bảo quản hoa quả trong nước hòa anolyt, giá thành rẻ và đảm bảo an toàn.


- Bày cỗ lên ban thờ càng thắp ít nhang càng tốt vì trong nhang có nhiều chất làm mất mùi, mất vị, lớp vỏ bao quanh thức ăn khô, nhạt do tác dụng chất làm biến đối chất lượng thực phẩm. Khói nhang nếu thắp nhiều ảnh hưởng tới đường hô hấp.

Bản tin kiến thức và kỹ thuật nông nghiệp
(2009-11-15)

 

Giải mã bộ gen cây cao lương

Email In PDF.

Thông báo về việc giải mã trình tự bộ gen cây cao lương là sự kiện quan trọng do Viện Nông nghiệp Nhiệt đới (ICRISAT) tiến hành từ nhiều năm nay. Trình tự của gen cây cao lương được công bố chính thức vào tháng 1-2009 trên tạp chí Nature.

Tập thể các nhà khoa học quốc tế đã báo cáo công trình quan trọng này do Dr.Andrew Paterson, Đại học Georgia (Mỹ) và Dr.C Tom Hash, chuyên gia chọn giống của ICRISAT cùng thực hiện. Cao lương là cây lương thực C4 đầu tiên được giải mã bộ gen. Cây lương thực đầu tiên có bộ gen được giải là cây lúa. Mía đường, bắp và kê ngọc cũng là cây hoà bản C4 có thể được hưởng lợi từ công trình này. Cây có chu trình quang hợp C4 biểu hiện nhiều lợi điểm hơn cây C3 trong lộ trình cố định carbon, đặc biệt trong điều kiện khô hạn và nhiệt độ cao.


Theo Dr William Dar, Tổng Giám đốc  ICRISAT, sự giải mã trình tự đầy đủ bộ gen cây cao lương, cây đầu tiên chống chịu khô hạn giỏi trong điều kiện nông nghiệp đất khô mở ra triển vọng lớn về giống cây trồng chịu hạn. “Trình tự bộ gen cao lương cho chúng ta những kiến thức về những gen chống chịu hạn tốt hơn khi so sánh với các loài cốc”. ICRISAT sẽ kết hợp kiến thức mới này với ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống, để chọn tạo được giống cao lương cải tiến và giống lai F1 có những tính trạng mong muốn, cải tiến tính chống chịu hạn, tính kháng bệnh.


Những gen ứng cử viên được phân lập liên quan đến tính chống chịu khô hạn hoặc kháng sâu hại có thể được áp dụng để hiểu rõ hơn những biến dị tự nhiên trong ngân hàng gen cao lương của ICRISAT, với khoảng 36.000 mẫu giống được sưu tập cho đến nay. Cao lương, cây chiến lược và là cây mang tính chất chuyên môn của ICRISAT, đứng vị trí quan trọng thứ 5 trong các loại cốc chống chịu hạn, là cây lương thực chủ lực của hơn 500 triệu người trên thế giới, ở 30 quốc gia thuộc vùng nhiệt đới bán sa mạc. Nó được trồng trên diện tích 42 triệu ha tại 98 quốc gia của châu Phi, châu Á, châu Đại Dương và châu Mỹ.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-15)

 

Nuôi thành thục tôm hùm bông trong các lồng trên biển

Email In PDF.

Đây là mô hình do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III triển khai tại vùng biển vịnh Cam Ranh - Khánh Hòa.


Với hơn 230 con tôm hùm bông có kích cỡ 600g-700g/con được bố trí thả nuôi trong 27 lồng với các thí nghiệm khác nhau về thức ăn, độ sâu, tỉ lệ giới tính và mật độ để đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến khả năng thành thục của tôm.


Tôm nuôi được cho ăn 2 lần/ngày với các loại thức ăn khai thác ngoài tự nhiên gồm cua, ghẹ, cá nhỏ, mực, sò. Khối lượng cho ăn khoảng 6 – 10% khối lượng tôm nuôi. Các lồng nuôi được vệ sinh thường xuyên nhằm đảm bảo lồng nuôi luôn sạch, tránh dịch bệnh cho tôm.


Sau hơn 6 tháng thả nuôi (từ 18/3 đến 5/10/2009), tôm nuôi đã thành thục sinh dục trên 50%, 100% số tôm nuôi đạt khối lượng 0,9-1,2 kg/con. Tỷ lệ thụ tinh đạt 100%. Số lượng trứng (phôi) đạt trung bình 0.89 – 0.95 triệu trứng/cá thể cái. Sự thành công nuôi thành thục tôm hùm bông tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của ấu trùng hiện nay của đề tài và công nghệ sản xuất giống nhân tạo tôm hùm trong thời gian tới.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-15)

 

Khả Lễ khởi động mùa hoa Tết

Email In PDF.

Khả Lễ khởi động mùa hoa Tết

Từ đầu tháng 11, người dân khu Khả Lễ, phường Võ Cường (thành phố Bắc Ninh) chính thức bước vào vụ hoa Tết Canh Dần 2010.

Với nghề truyền thống và kinh nghiệm trồng hoa nhiều năm cộng với dự án hoa cao cấp hơn 7,7 ha được thành phố quan tâm đầu tư, cây hoa đã trở thành nguồn thu nhập chính đối với nhiều hộ dân Khả Lễ trong niên vụ đông xuân, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân nơi đây.


Ông Nguyễn Phương Hợp, Trưởng khu Khả Lễ cho biết, vùng dự án hoa cao cấp của địa phương hiện đã có 9 nhà lưới khung sắt diện tích trên 3.000m2. Riêng năm 2009 đã có thêm 5 nhà lưới được đầu tư bổ sung, diện tích 1.200m2. Các hộ tham gia trồng hoa trong vùng dự án được UBND thành phố Bắc Ninh hỗ trợ 50% kinh phí làm nhà lưới và 50% giá cây giống. Để hoàn thiện một nhà lưới, ngoài kinh phí hỗ trợ của Thành phố, mỗi hộ dân cần đầu tư thêm 20 triệu đồng. Điều này giải thích vì sao số diện tích nhà lưới ở Khả Lễ tăng không đáng kể qua nhiều năm, bởi lẽ nhà lưới chủ yếu dùng trồng hoa Ly, trong khi việc thâm canh giống hoa này luôn phụ thuộc vào yếu tố thời tiết, nguồn giống nhập từ nước ngoài và khả năng thụ trên thị trường. Niên vụ đông xuân 2009-2010, Khả Lễ trồng hơn 10 ha hoa. Trong đó riêng hoa Ly có 6 hộ trồng, diện tích 1.700m2, tương ứng 34.000 củ giống, đơn giá 24.000 đồng/củ. Hoa Lay ơn trồng 40.000m2 với 80.000 củ giống, đơn giá 1.000 đồng/củ; hoa cúc 120.000m2 với hơn 48 vạn cây, đơn giá 200 đồng/cây. Theo lịch thời vụ, thời gian xuống giống hoa Ly bắt đầu từ ngày 22 đến ngày 24-11. Đối với hoa Lay ơn và Cúc chi trồng sau hoa Ly một vài ngày. Riêng Cúc vàng có thời gian sinh trưởng dài ngày (hơn ba tháng) nên việc xuống giống đã được triển khai từ đầu tháng 11.


Trồng hoa là công việc luôn tất bật khuya sớm, ông Diêm Văn Khuê, người có thâm niên hơn 15 năm gắn bó với nghề trồng hoa ở Khả Lễ nhận định. Hướng đi mà gia đình ông Khuê lựa chọn là chuyên canh cây hoa giống cung cấp cho các hộ dân trong làng và nhiều tỉnh lân cận. Với diện tích hơn 4.000m2 nhà lưới, ông Khuê đã lai tạo, nhân giống thành công nhiều giống hoa như Cúc chi, Cúc vàng, Violet, hoa phăng… Bước vào vụ hoa Tết Canh Dần năm nay, dự kiến, ông Khuê sẽ cung cấp 48 vạn cây cúc giống cho các hộ dân Khả Lễ và người trồng hoa ở Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương. Hiện tại mỗi ngày, gia đình ông Khuê thuê 5 nhân công lao động lai ghép tạo mầm, dâm cành và nhân giống hoa cúc, bảo đảm cung cấp đủ lượng giống cho khách hàng theo đúng lịch thời vụ. Đối với người trồng hoa, chất lượng cây giống luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Do vậy để hoa trổ bông đúng vào thời điểm mà người trồng hoạch định, ông Khuê đã cho lắp đặt hệ thống 30 bóng điện tại khu nhà lưới, công suất mỗi bóng từ 75-100W để thắp vào ban đêm, kéo dài thời gian chiếu sáng giúp cây giống “trẻ lâu”, ra bông đều bảo đảm cho người trồng có thu hoạch cao. Ông Khuê cho biết, do ảnh hưởng thời tiết mùa đông ngày ngắn đêm dài, nhiệt độ ban đêm khá thấp, nếu không tạo “ánh sáng cưỡng bức” từ bóng đèn ban đêm, cây giống sẽ bị rút ngắn thời gian sinh trưởng và trổ hoa sớm gây thất thu. Uy tín của người nhân giống hoa cúc phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm nêu trên.


Theo quy hoạch phát triển dự án hoa cao cấp của thành phố Bắc Ninh, vùng trồng hoa Khả Lễ đã được tôn cao nền từ 40-60cm bằng đất phù sa, bảo đảm cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên do tuyến đường Bình Than chạy qua vùng dự án chưa hoàn thiện thi công, hệ thống mương tưới tiêu bị hư hỏng nhiều đoạn, khả năng bị ngập úng khi mưa lớn kéo dài rất dễ xảy ra.


Một mùa hoa Tết lại bắt đầu. Bằng kinh nghiệm cũng như sự cần cù chịu khó cộng với sự quan tâm hỗ trợ từ phía Nhà nước, người Khả Lễ lại đang khẩn trương vào vụ, ươm trồng và nhân lên những vườn hoa nhiều mầu sắc, góp thêm cho mỗi nhà những cánh hoa xuân nồng ấm khi Xuân về Tết đến.

Báo Bắc Ninh
(2009-11-15)

 

Yên Thế: sản lượng chè tăng hơn 200 tấn

Email In PDF.

Yên Thế: sản lượng chè tăng hơn 200 tấn

Năm nay, sản lượng chè của Yên Thế đạt 2.300 tấn, tăng hơn 200 tấn so với năm 2008. Với giá bình quân 3 nghìn đồng/kg, doanh thu từ chè của địa phương ước đạt 6,9 tỷ đồng.

Nhiều xã có sản lượng chè lớn là Xuân Lương, Canh Nậu, Tam Tiến. Có được kết quả trên do huyện tập trung chỉ đạo mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng chè;  nông dân các địa phương tích cực đưa giống mới và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh.


Những năm tới,  huyện khuyến khích nông dân mở rộng diện tích chè chất lượng như LDP1, LDP2, đồng thời dành kinh phí từ các chương trình, dự án để nâng cao chất lượng chè.

Báo Bắc Giang
(2009-11-15)

 
Trang 176 trong tổng số 335

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video