Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Ép xanh - một cách bón phân hữu cơ độc đáo

Email In PDF.

Từ những năm đầu thập kỷ 60 một số công nhân nông trường Đông Hiếu (Nghệ An) đã có sáng kiến sử dụng lượng cỏ xanh, các loài cây phân xanh được dẫy ra trong quá trình làm cỏ, chăm sóc kết hợp với một ít phân trâu bò tươi và vôi bột đào hố ủ tại chỗ thành một loại phân hữu cơ rất tốt gọi là ép xanh để bón cho các vườn cây ăn quả lâu năm (cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, hồng…), cây công nghiệp dài ngày (cao su, cà phê, chè…) đưa lại kết quả rất tốt.

Với cách làm này bà con thu được nhiều cái lợi: tiết kiệm chi phí mua phân bón, cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít bị sâu bệnh gây hại, đặc biệt là tuổi thọ vườn cây và thời gian cho thu hoạch kéo dài dẫn đến chu kỳ kinh tế cũng kéo dài nên hiệu quả kinh tế tăng cao. Sáng kiến này nhanh chóng được Bộ Nông trường trước đây tổng kết, đánh giá và phổ biến nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp.


Tuy nhiên, dưới sức ép của vấn đề an ninh lương thực và xu hướng vô cơ hóa phân bón của thế giới, nền nông nghiệp nước ta cũng chịu ảnh hưởng lớn, nhiều nơi còn lạm dụng việc sử dụng phân bón hóa học như một biện pháp tăng nhanh năng suất cây trồng mà coi nhẹ vai trò cải tạo đất, bảo vệ cây trồng của phân bón hữu cơ, trong đó hầu như nhiều nơi đã quên lãng kỹ thuật ép xanh. Nhận thấy vai trò to lớn của phân bón hữu cơ trong việc nâng cao chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các nông sản nước ta trong xu thế hội nhập, là một cán bộ kỹ thuật đã từng hướng dẫn công nhân các nông trường nhiều năm làm kỹ thuật ép xanh, nay Cận tôi xin ghi lại ở đây, mong bà con các nơi tham khảo, áp dụng.


- Thời vụ ép xanh tốt nhất: Với các tỉnh khu vực phía Bắc nên làm vào các tháng 6, 7. Với các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Nam bộ nên ép xanh ngay sau khi mùa mưa sắp kết thúc. Đây là những tháng mà các loại cỏ dại trong vườn cây sinh trưởng, phát triển tốt, lượng chất xanh nhiều thuận lợi cho việc ép xanh tại chỗ. Mặt khác, do nhiệt độ và độ ẩm trong đất còn cao nên quá trình phân hủy chất hữu cơ sẽ diễn ra nhanh, thuận lợi, cho chất lượng phân hữu cơ tốt nhất có lợi cho cây trồng, góp phần cải tạo lý tính, hóa tính của đất trồng.


- Chuẩn bị vật liệu: Cỏ tươi được cắt hoặc dẫy ra từ các băng và xung quanh tán cây; các loại cây trồng xen trên băng như lạc, đậu, vừng, cây phân xanh xung quanh bờ lô, bìa rừng… được chặt ngắn 5-7cm; thu gom các loại phân gia súc tươi như trâu, bò, ngựa, dê, lợn; chuẩn bị một ít vôi bột và phân lân.


- Cách làm: Với các vườn cây ăn quả, cây cà phê chưa kép tán, có thể đào rãnh hình bán nguyệt theo hình chiếu của tán cây hoặc khi đã khép tán thì đào rãnh chung giữa tán của 2 cây liền kề. Kích thước hố đào: chiều dài từ 1,5 đến 3m hoặc bằng 1/2 tán cây tùy theo độ lớn của cây; chiều rộng 20cm, sâu 20-30cm. Năm sau lại đào và ép xanh phía đối diện. Với cây chè nên đào rãnh dài theo chiều dài giữa 2 hàng chè để ép xanh. Với cây cao su, mỗi năm đào 1 hố có kích thước 1,5m x 0,5m x 0,5m về một phía của cây, các năm sâu lại đào và ép xanh các phía còn lại vừa để ép xanh, vừa làm hố dự trữ nước.


Chú ý: với những vùng đất dốc nên đào rãnh và ép xanh phía trên cao để phân chảy ngấm xuống dưới, tránh bị rửa trôi gây lãng phí. Mỗi hố cho xuống khoảng 100kg cỏ tươi, chất xanh (với cao su có thể quét gom lá khô để đốt rồi cho vào hố) + 15-20kg phân trâu bò tươi + 0,5-1kg phân lân. Trộn đều các loại vật liệu trong hố rồi lấp kín đất, tưới đủ ẩm, phía trên có tủ rơm, rạ, lá khô để giữ ẩm.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-09)

 

Giống cà chua thích hợp vùng đất mặn

Email In PDF.

Giống cà chua thích hợp vùng đất mặn

Mới đây, các nhà khoa học Italia đã lai tạo thành công loại cà chua anh đào (cherry tomatoes) có thể phát triển được ở nước mặn.

Chuyên gia Cristina Sgherri và các đồng nghiệp ở Trường đại học Pisa đã trồng cà chua tưới bằng nước thường (nước ngọt) và tưới bằng nước biển pha với tỷ lệ là 12%. Kết quả cho thấy, cà chua nước biển bình quân nhỏ hơn khoảng 60% so với chà chua được tưới bằng nước thường. Tuy nhiên, chúng lại có hương vị ngon hơn, quả có chứa nồng độ axít cao hơn đồng thời có tỷ lệ đường cao hơn.


Ngoài ra, cà chua tưới nước biển cũng chứa nhiều thành phần chống oxi hoá nhiều hơn, bao gồm cả vitamin C, E và axít chlorogenic. Các nhà khoa học cho rằng, loại cà chua nước biển này rất hữu ích đối với những vùng duyên hải, nơi mà nước ngọt thì ít nước biển thì nhiều. Mặc dù năng suất không cao bằng trồng nước ngọt nhưng giá bán cao hơn sẽ bù đắp lại được.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-09)


 

Máy gặt đập "made in Hai Tính"

Email In PDF.
Những tiếng vỗ tay của người dân ồ lên thán phục khi chứng kiến cỗ máy gặt đập liên hợp (GĐLH) của "kỹ sư lớp 4" Ngô Văn Tính, ngụ ấp Tân Hiệp, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn đang biểu diễn "ăn" lúa ngoài đồng.
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 06 Tháng 9 2010 10:11 ) Đọc thêm...
 

An Khê làm mới mùa hoa Tết

Email In PDF.
An Khê làm mới mùa hoa Tết

Thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai là vùng chuyên canh hoa và rau màu các loại. Cứ vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 hàng năm, người dân nơi đây đua nhau trồng hoa phục vụ Tết Nguyên đán. Đặc biệt năm nay trên địa bàn thị xã An Khê đã có cơ sở cung cấp giống hoa cấy mô và phòng Kinh tế đang triển khai Dự án Nông thôn - miền núi: “Trồng hoa công nghệ cao” để có hoa cao cấp phục vụ Tết.

Dự án “Trồng hoa công nghệ cao” mới được triển khai mấy tháng mà nhìn bộ mặt nông thôn vùng trồng hoa ở thị xã An Khê khí thế hẳn lên. Đây là Dự án do Bộ Khoa học & Công nghệ đầu tư với kinh phí trên 1,7 tỷ đồng, dân đối ứng 200 triệu đồng, được triển khai từ tháng 4/2009 đến tháng 4/2011. Thị xã An Khê đã chọn 10 hộ nông dân có kinh nghiệm trồng hoa để đầu tư 10.000 m2 nhà màng, mỗi hộ đầu tư 1.000 m2 để trồng hoa cắt cành.



Đến khu trồng hoa công nghệ cao của thị xã An Khê, nhìn từ xa cứ tưởng khu trồng hoa ở Đà Lạt với một loạt nhà màng trắng, nhấp nhô giữa cánh đồng. Nhà màng được xây dựng bằng hệ thống khung cây lồ ô chắc chắn, các lớp màng lợp mái, hệ thống lưới che chắn côn trùng, hệ thống tưới phun sương, phun mù, tưới nhỏ giọt tự động; hệ thống điều khiển ánh sáng nhân tạo bằng bảng điều khiển, bóng đèn để điều khiển nở hoa cho cúc hoặc dùng để bẫy bả sinh học, phòng trừ sâu bệnh cho hoa. Theo anh Nguyễn Công Tuấn, chuyên viên phòng Kinh tế, thị xã An Khê, trồng hoa theo mô hình này là một cách làm rất mới, theo đó cây trồng được cách ly hoàn toàn với thiên nhiên và có thể trồng quanh năm mà không hề chịu ảnh hưởng trước sự thay đổi của thời tiết hay bị sâu bọ phá hoại.


Các giống hoa trồng trong nhà màng được lấy từ cơ sở nhân giống hoa cấy mô Thiên Ngân. Những hộ nông dân được dự án chuyển giao cây giống và được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn qui trình sản xuất cây hoa thương phẩm. Lúc chúng tôi đến, hoa mới trồng được 15 ngày đã lên xanh tốt. Giống hoa cấy mô được lấy trực tiếp ngay tại thị xã, không phải vận chuyển xa nên cây sống trên 90%.


Ngoài ra, có nhiều hộ dân xung quanh tự chủ động bỏ tiền xây dựng nhà màng với quy mô vài trăm mét vuông để trồng hoa cấy mô. Nếu không làm nhà màng người dân cũng phải mắc bóng đèn điện để điều tiết ánh sáng cho hoa. Anh Nguyễn Xuân Thuần, một nông dân chuyên trồng hoa ở thôn Tân Lập, phường Ngô Mây, thị xã An Khê cho biết: Nhà tôi ở gần khu vực trồng hoa của dự án, thấy giống hoa cấy mô khoẻ, đều, tỷ lệ sống cao, giữa tháng 10 tôi mua 14.000 cây giống về trồng vào chậu, giờ cây đã cao 15 cm, không bị chết cây nào. Nhìn chậu hoa thật thích mắt, cây nào cây nấy mập mạp, xanh tốt như nhau. Thấy vậy, tôi lại tiếp tục đến mua thêm 2.000 cây giống nữa. Hiện nay tôi đã có 550 chậu hoa cúc bằng giống cấy mô phục vụ Tết Nguyên đán sắp tới. Đã có giống hoa cấy mô sản xuất tại địa phương nên giá mua rẻ, mỗi cây chỉ tốn 100 đồng lại không phải mất tiền vận chuyển, cây không bị mất sức, trồng là bén ngay. Hy vọng Tết đến gia đình tôi có hoa cao cấp bán trên thị trường.


Trồng hoa từ giống cấy mô ít tốn tiền phân, thuốc vì cây mau lớn, ít sâu bệnh, thời gian chăm sóc ngắn mà chất lượng hoa cao. Tuy chi phí sản xuất chậu hoa cấy mô cao hơn chậu hoa truyền thống, nhưng do chất lượng hoa tốt hơn nên giá bán chậu hoa cấy mô sẽ cao hơn.


Người trồng hoa ở An Khê hy vọng, năm nay thời tiết đẹp, thuận lợi cho cúc phát triển, lại có giống cấy mô trồng theo công nghệ cao sẽ có cơ hội nâng cao thu nhập.

Báo Nông nghiệp
(2009-11-09)

 

Trung Kênh đang trở thành vùng thâm canh rau màu

Email In PDF.

Trung Kênh đang trở thành vùng thâm canh rau màu

Vụ đông năm nay xã Trung Kênh (Lương Tài) gieo trồng hơn 160 ha cây rau màu các loại, với những vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Đây là bước đi ban đầu hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa.



 

Trên cánh đồng Đống Thông của thôn Hoàng Kênh, sản xuất vụ đông của người dân diễn ra hết sức tấp nập. Điều này khác với những vụ trước, khi mà người dân ở đây chỉ quen với sông nước, tầu thuyền ngược xuôi. Tuy nhiên, từ hiệu quả trồng cây màu đã được khẳng định nhiều vụ nay, thì người dân Hoàng Kênh lại tập trung “lên bờ” gắn bó với vụ đông. Theo như người dân cho biết vừa thắng lợi bội thu lúa mùa, đầu tháng 10 nông dân lại bắt tay ngay vào làm đất sản xuất vụ đông. Cả cánh đồng, thửa ruộng phần lớn đã được cầy, xới và xuống giống trồng cây mầu, như đỗ tương, hành tỏi… phủ kín diện tích.


Chị Vũ Thị Quyên đang tra đỗ tương phấn khởi bộc bạch: Cây đỗ tương được đánh giá là cây cho giá trị kinh tế cao, quy trình không khó, vốn đầu tư ít, tiêu thụ dễ nên được đưa vào diện rộng. Gia đình tôi trồng 2 sào đỗ tương đông trên đất 2 lúa, kỹ thuật gieo trồng đã được phổ biến, cộng thêm nhiều năm đúc rút kinh nghiệm và địa phương quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện cho nông hộ sản xuất; do vậy việc trồng màu khá thuận lợi.


Khác với đất màu trong đồng, đất bãi ven đê người dân có thể gieo trồng luân canh một năm 3 vụ màu, với các giống chủ lực như cà rốt, đỗ tương và ngô. Bởi vậy, xen lẫn những diện tích cây màu đang trồng là mầu xanh của cây màu đã xuống giống cách đây chừng nửa tháng. Việc thâm canh gối vụ này là kinh nghiệm trồng màu lâu năm được nông hộ đúc kết, góp phần thu hoạch cây trồng hiệu quả hơn.


Gia đình anh Hoàng Văn Huyên, thôn Cáp Điền Trên là một trong những hộ đi đầu của xã về gieo trồng cây màu vụ đông cho biết: Với 6 mẫu diện tích đất bãi đã được gia đình anh tập trung trồng cây cà rốt từ 3 năm nay. Đây là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc, hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần cây màu khác. Cụ thể như vụ màu năm ngoái mặc dù do ảnh hưởng xấu của thời tiết, nước sông lên cao; “hà bá” đã nuốt chửng phần lớn diện tích trồng cà rốt của gia đình; tuy nhiên diện tích còn lại cũng cho gia đình anh thu nhập bạc triệu. Bởi, bình quân một sào trồng cà rốt cho thu hoạch hơn 2 tấn củ, với giá bán bình quân 2.500-3.000 đồng/kg; trừ chi phí hơn 1 triệu đồng tiền đầu tư, gia đình anh thu lãi từ 4-5 triệu đồng. Chính vì hiệu quả thu nhập cao, nên vụ đông năm nay, gia đình anh đã mở rộng gieo trồng cây màu vụ đông lên 7,5 mẫu đất trong đồng và ngoài đê.


Theo kế hoạch, vụ đông năm 2009 xã Trung Kênh phấn đấu gieo trồng hơn 160 ha diện tích, trong đó tập trung vào các loại cây màu chủ lực như: Cà rốt, đỗ tương, ngô. Đây là một trong những địa phương dẫn đầu toàn huyện về mở rộng diện tích gieo trồng cây màu vụ đông. Từ việc xác định vụ màu là vụ sản xuất chính trong năm nhằm tăng thu nhập cho bà con nông dân; nên quan điểm chỉ đạo của xã là duy trì cây rau màu truyền thống và nhân rộng cây màu chất lượng cao; ổn định gieo trồng trên đất màu và mở rộng thâm canh trên đất 2 lúa để tiếp tục thực hiện xây dựng nhiều cánh đồng cho thu nhập 50 triệu đồng/ha trở lên. Bởi vậy, xã đã triển khai kế hoạch và chỉ đạo thôn có giải pháp thực hiện ngay từ sản xuất vụ đông xuân và vụ mùa; bố trí khoanh vùng, xây dựng cơ cấu giống lúa, trà lúa để có quỹ đất làm vụ đông. Cùng với đó thống nhất cơ cấu cây trồng, tập trung thực hiện các giải pháp mở rộng diện tích cây đông bằng việc khuyến khích bà con đưa vào trồng các loại cây cho giá trị cao, đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu dùng để tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, từng bước hình thành cây vụ đông hàng hóa và phục vụ xuất khẩu; nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng, ngoài bãi ven đê để chủ động tưới tiêu. Bên cạnh sự hỗ trợ của tỉnh, nhiều cơ sở đã có cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất; tiến hành cung ứng giống, vật tư nông nghiệp; chú trọng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, tăng cường tập huấn chuyển giao KHKT cho xã viên.


Do có sự chuẩn bị tốt, nên đến nay Trung Kênh đã cơ bản gieo trồng diện tích cây màu các loại. Toàn xã đã hình thành được 5 vùng sản xuất cây màu tập trung; vùng lớn nhất khoảng 40 mẫu, còn trung bình 20 mẫu/vùng. Bà con nông dân xã Trung Kênh đang tiến hành chăm sóc, bón lót để cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Diện tích còn lại trên đất hai lúa đang được chuẩn bị giống, phân bón để trồng ngay cây màu vụ đông.


Tận dụng đất đai để khai thác tiềm năng, mở rộng cây trồng chất lượng để nâng cao hệ số quay vòng sử dụng đất; chuyển từ tư duy sản lượng sang tư duy giá trị làm thước đo hiệu quả kinh tế. Đó là hướng đi, mở ra nhiều triển vọng mới trong sản xuất vụ đông ở Trung Kênh, đưa xã trở thành một trong những vùng thâm canh lớn của huyện, của tỉnh.

Báo Bắc Ninh
(2009-11-09)

 

Giăng mùng nuôi cá lóc

Email In PDF.

Chỉ cần vài cây sào tre làm trụ để neo một cái mùng lưới diện tích 10-12m2 dưới dòng kênh, thả nuôi 2 - 3 ngàn con cá lóc sau 3 - 3,5 tháng là có thu nhập từ 5 - 10 triệu đồng.

Thật đơn giản mà hiệu quả, nên chẳng mấy chốc cả xóm cùng... dèo để cùng nhau thoát nghèo, vươn lên khá giàu. Mô hình này hiện đang “nở rộ” suốt dọc các huyện: Châu Thành, Mỹ Tú, Thạnh Trị và Ngã Năm (Sóc Trăng).

Cứu tinh cá lóc

Ông Bùi Văn Huỳnh, ở ấp 3, thị trấn Ngã Năm (huyện Ngã Năm), đưa chúng tôi ra mé kênh Ben Long chỉ vào 3 chiếc mùng đang được neo dưới nước giải thích: “Mỗi cái mùng khoảng 10-12m2 thả được từ 2-3 ngàn con cá lóc giống cỡ loại ròng ròng mình hay xúc ăn. Chỉ cần đạt tỷ lệ đầu con khoảng 50% thôi thì sau 3,5 - 4 tháng đã có khoảng 1 tấn cá trở lên rồi đó”.

Năm ngoái, dịp gần Tết Nguyên đán, chỉ với 1 dèo, ông  Huỳnh thu hơn 1 tấn cá thương phẩm bán với giá 30 ngàn đồng/kg, tính ra lời hơn 15 triệu đồng. Ông Huỳnh cho biết thêm: “Vụ này (thả tháng 6-7 âm lịch) là dễ nuôi nhất vì nước trên đồng lênh láng dễ kiếm thức ăn tự nhiên như ốc bươu vàng, cá tạp...

Bình quân, để có 1 tấn cá thương phẩm phải tốn từ 3,5 - 4 tấn cá tạp, nhưng nhờ nuôi theo kiểu tận dụng thức ăn tại chỗ mà nhiều hộ thoát nghèo, một số khác thì khá lên thấy rõ. Bởi vậy, trên toàn tuyến kênh này hiện có gần trăm hộ nuôi dèo, làm sáng rực cả đoạn kênh về đêm”.

Trường hợp thoát nghèo từ nuôi cá dèo mà chúng tôi có dịp tiếp xúc là ông Trần Văn Em, một cựu chiến binh ở ấp 3. Ông Em tình thật: “Trước đây tôi chuyên nuôi vịt tàu và bị nó (vịt) “cạp” tiêu hết vốn, còn nhà thì trống hoác không có tiền để cất. Ba năm nay nhờ nuôi cá dèo mà tôi đã cất lại được căn nhà, dù chưa khang trang lắm nhưng cũng đủ ấm cúng gia đình”.

Theo tính toán của người nuôi ở Ngã Năm, nếu tự đi bắt đủ để nuôi thì lời trọn từ 15-20 triệu đồng/dèo, còn nếu mua cũng chỉ với giá 3 ngàn đồng/kg trở lại, tính ra cũng còn lời từ 7-10 triệu đồng/dèo. Do chi phí thức ăn trong suốt vụ nuôi cho một dèo lên đến cả chục triệu đồng, nên đa số đều nuôi một vụ, chỉ có hộ khá mới nuôi được 2 vụ/năm.

Trên đường từ Thuận Hoà vào UBND xã Thiện Mỹ (Châu Thành) chúng tôi đã thấy lác đác những cái dèo nằm dọc hai bênh bờ kênh và càng vào gần tới xã, mật độ dèo càng tăng thêm. Ông Nguyễn Minh Hùng-Phó chủ tịch thường trực UBND xã Thiện Mỹ cho biết: “Ban đầu chỉ có hộ ông Nguyễn Văn Mao ngang xã nuôi, sau thấy hiệu quả nên nhiều người làm theo và hiện toàn xã đã có đến 148 dèo nuôi cá lóc thương phẩm, nhưng tập trung nhiều nhất là ở ấp Đắc Thắng.

Chính từ hiệu quả của mô hình, nên trong năm 2009, từ nguồn vốn trợ giá, trợ cước, chúng tôi đã hỗ trợ cho 26 hộ nghèo của ấp Mỹ Tân thực hiện mô hình nuôi dèo mỗi hộ 2 ngàn con cá lóc giống. Hiện nay, phần lớn đã thu hoạch xong và hầu hết đều có lãi từ 3-5 triệu đồng. Chúng tôi đang tiếp tục chỉ đạo để hỗ trợ tiếp tục 28 ngàn con giống cho 14 hộ nghèo thực hiện mô hình nuôi dèo cũng từ nguồn vốn trên”.

Mở ra hướng “làm giàu”

Theo tuyến đường đal ông Hùng chỉ, chúng tôi tìm đến xóm dèo ở ấp Đắc Thắng và thật bất ngờ với số lượng dèo san sát, nối tiếp nhau chạy dọc theo hai bên bờ kênh. Ông chủ của gần một chục cái dèo đang xay cá tạp làm mồi cho cá lóc có tên Thạc còn rất trẻ, nhưng đã có thâm niên gần 4 năm nuôi cá lóc dèo.

Anh Thạc kể: “Bây giờ, trên tuyến kênh này gần như nhà nào có điều kiện là xuống dèo ngay vì rất hiệu quả. Tuy nhiên, do không tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên tại chỗ, nên nếu nuôi đạt tỷ lệ đầu con mới có mức lời được 7-10 triệu đồng/dèo, còn không chỉ từ 3-5 triệu đồng”.

Câu chuyện nuôi cá lóc dèo không dừng lại ở những hộ thoát nghèo mà còn mở ra hướng làm giàu cho những người vốn nhạy bén với thời cơ. Ông Nguyễn Văn Mao, ngoài việc tiếp tục dèo, ông đã bắt đầu chuyển sang làm dịch vụ cung cấp cá giống và thức ăn cho những hộ nuôi tại địa phương. Tính ra nguồn lợi từ dịch vụ này cũng không thua kém những cái dèo của ông đang thực hiện, nhưng lại ít rủi ro hơn.

Tương tự như ông Mao, anh Thạc ở ấp Đắc Thắng cũng bắt đầu làm dịch vụ cho các hộ nuôi dèo. Anh Thạc kể: “Khi thấy người nuôi nhiều, tôi bắt đầu làm dịch vụ cung ứng con giống, sau đó là cá tạp làm thức ăn nuôi cá; đồng thời kiêm luôn hướng dẫn kỹ thuật cho người nuôi. Nhờ cách làm này nên tôi mới có vốn để mở rộng số dèo nuôi như hiện nay”. Riêng ở huyện Ngã Năm, những hộ nghèo không đủ vốn nuôi thì đi kéo cá tạp bán lại cho hộ nuôi mỗi ngày cũng được từ vài chục, có khi cả trăm ngàn đồng/người.

Tuy mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng do vốn đầu tư khá lớn, nên những hộ nghèo nếu không được hỗ trợ vốn sẽ rất khó thực hiện mô hình, còn những hộ muốn mở rộng thêm số dèo hoặc tăng số vụ nuôi để tăng thu nhập cũng đang vướng vấn đề vốn. Ông Em than: “Cha con tôi muốn mở thêm một số dèo nữa nhưng không thể vay vốn ngân hàng vì không có gì thế chấp. Nếu có thêm vốn chắc chắn việc nuôi cá của gia đình tôi phát triển nhanh hơn”.

Báo Lao động Điện tử
(2009-11-09)

 

Chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế ở Bắc Quang

Email In PDF.

4 năm thực chủ trương chuyển đổi diện tích rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế, huyện Bắc Quang đã trồng được trên 19 nghìn ha rừng với 4.157 hộ tham gia. Đây là con số kỷ lục trong công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng của huyện.

Từ trồng rừng kinh tế, người dân Bắc Quang không chỉ có thu nhập ổn định, còn đang ấp ủ giấc mơ làm giàu từ rừng. Năm 1998, gia đình chị Hoàng Thị Đệ, thôn Tiến Thành, xã Đông Thành (Bắc Quang) được Nhà nước giao quản lý, sử dụng 5 ha đất lâm nghiệp. Diện tích đất được giao chủ yếu là cây bụi, giá trị kinh tế thấp, vì vậy gia đình chị đã huy động nhân lực cải tạo rừng tạp để trồng cam. Những năm đầu, cây cam cho thu nhập hàng chục triệu đồng/năm. Nhưng về sau, cam bị sâu bệnh phá hoại, giá thành sản phẩm thấp, trong khi chi phí sản xuất lớn nên hiệu quả kinh tế bị giảm sút rất nhiều. Từ năm 2004, gia đình chị đã mạnh dạn chuyển đổi diện tích trồng cam sang trồng keo. Khi mới thực hiện chuyển đổi, gia đình chị được Nhà nước hỗ trợ cây giống, phân bón, cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật trồng keo. Đến nay, 4 ha keo của gia đình chị đã được 5 tuổi, đường kính trung bình 50-40cm/cây. Từ chuyển đổi diện tích rừng tạp, nghèo kiệt sang trồng cam, trồng keo và chè, gia đình chị đã có nguồn thu nhập ổn định, 3 con chị được đầu tư ăn học. Hiện nay, người con cả của gia đình chị Đệ đã tốt nghiệp sư phạm, người con thứ 2 đang học CĐSP Hà Giang và con út học Trung cấp An ninh. Đưa chúng tôi thăm vườn keo của gia đình, chị Đệ cho biết: Trung bình 1 ha keo trồng từ 1.800-2.200 cây, sau chu kỳ 6-7 năm thu được 90 m3 gỗ/ha, tổng chi phí đầu tư khoảng 35 triệu đồng/ha, trừ mọi chi phí, mỗi ha keo thu lời 70-80 triệu đồng. Ngoài ra, khi keo chưa đến tuổi thu hoạch, có thể tỉa cành, tỉa cây làm chất đốt hoặc bán ngoài thị trường. Khoảng 2 năm nữa, 4 ha keo của gia đình chị sẽ cho thu hoạch, với giá thu mua bình quân 1,5 triệu đồng/m3 gỗ keo như hiện nay, gia đình chị sẽ có trong tay số tiền trăm triệu đồng.



Năm 1997, gia đình anh Nguyễn Hồng Hải rời mảnh đất Nam Định lên định cư tại thôn Khuổi Niểng, xã Đông Thành. Ngày đó, mảnh đất gia đình anh được giao khoán rất hoang vu, cây cối rậm rạp. Đặt chân lên mảnh đất này, anh đã bỏ nhiều công sức cải tạo rừng, phát bỏ diện tích rừng nứa, hiệu quả kinh tế thấp, chuyển sang trồng cam. 12 năm cải tạo đất, đến nay anh có trang trại bạt ngàn cam và 5 ha keo 1 năm tuổi. Anh cho biết: Điều kiện khí hậu, chất đất ở Đông Thành rất thuận lợi để phát triển rừng kinh tế, nhất là trồng keo và một số cây có giá trị cao khác. Trồng keo chi phí thấp, nhanh quay vòng lại cho hiệu quả kinh tế cao nên nhiều người dân trong xã đã chuyển đổi rừng tạp sang trồng keo. Chỉ tay lên phía rừng keo xanh mướt trải dài trước cửa nhà, anh Hải vui mừng nói: Sau 6 năm nữa, diện tích keo sẽ cho thu hoạch, gia đình anh sẽ có trong tay hàng trăm triệu đồng… Không chỉ có gia đình chị Đệ, anh Hải mạnh dạn chuyển diện tích rừng nghèo kiệt sang trồng keo, phong trào trồng rừng kinh tế đã phát triển mạnh ở Đông Thành. Ông Nguyễn Doãn Chương, Chủ tịch UBND xã khẳng định: Chưa bao giờ ý thức của người dân trong việc khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng kinh tế được nâng cao như hiện nay. Phong trào nhà nhà trồng rừng, người người trồng rừng đã góp phần tích cực trong việc nâng độ che phủ của rừng, bảo vệ tốt diện tích rừng đầu nguồn. Nhận thức rõ hiệu ích của bảo vệ, phát triển rừng, các hộ dân đã chủ động bỏ vốn trồng rừng, bảo vệ rừng theo các chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước. Từ năm 2006 đến nay, diện tích trồng rừng sản xuất đạt 1.163 ha với 362 hộ tham gia. Trong đó, 236 hộ có diện tích từ 1-3 ha, 75 hộ có diện tích từ 3 ha trở lên, 51 hộ có diện tích rừng dưới 1 ha. Việc trồng rừng kinh tế, bảo vệ vốn rừng giờ đã trở thành ý thức tự giác trong cộng đồng dân cư và các hộ gia đình ở Đông Thành.



Rời Đông Thành, chúng tôi đến Thượng Bình - xã vùng 3 của huyện Bắc Quang với tổng diện tích tự nhiên trên 4,4 nghìn ha, trong đó đất lâm nghiệp trên 3,8 nghìn ha. Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xác định xã có 2 loại rừng phòng hộ và rừng sản xuất, chia bình quân mỗi hộ có 10 ha đất rừng sản xuất. Nhưng trước đây, rừng Thượng Bình chủ yếu là cây nứa, giá trị kinh tế không cao, người dân dù đã được giao đất, giao rừng, hoàn toàn làm chủ trên diện tích rừng hiện có nhưng thu nhập bấp bênh, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế rừng của huyện, từ năm 2004 đến nay, người dân trong xã tích cực chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng keo. Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, năm đầu tiên trồng xen canh keo, lúa nương, sang năm thứ 2 trồng xen canh sắn. Như vậy, khi keo chưa khép tán, mỗi hộ dân thu được hàng tấn lúa nương, sắn. Tính đến tháng 9.2009, toàn xã trồng được trên 830 ha rừng. Đi trên đất Thượng Bình mùa này, chúng tôi luôn bắt gặp màu vàng no ấm của lúa nương đang chín xen với màu xanh mơn mởn của những cây keo một năm tuổi. Phát triển kinh tế rừng với phương châm lấy ngắn nuôi dài, đời sống người dân Thượng Bình ngày càng khấm khá, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Hàng trăm hộ dân trồng rừng kinh tế ở Thượng Bình đang ấp ủ giấc mơ làm giàu khi nhiều diện tích keo chỉ còn mấy năm nữa sẽ cho thu hoạch.



Vùng đất Bắc Quang rất giàu tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế rừng. Diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện gần 70 nghìn ha, trong đó rừng phòng hộ chiếm trên 28 nghìn ha, rừng sản xuất trên 41 nghìn ha, chiếm 60% diện tích đất lâm nghiệp. Nhằm phát huy lợi thế, khai thác hiệu quả tiềm năng rừng phục vụ mục tiêu phát triển KT-XH, huyện Bắc Quang đã xây dựng nghị quyết chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế. Mục tiêu đặt ra là chuyển nhanh, mạnh diện tích rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế thấp sang trồng rừng kinh tế có giá trị cao. Thời gian đầu triển khai nghị quyết, huyện thực hiện chủ trương hỗ trợ giống cây trồng, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng. Sau một thời gian triển khai, trồng rừng kinh tế đã trở thành nghề sản xuất chính của nhiều hộ gia đình. Trong vòng 4 năm, toàn huyện trồng được trên 19 nghìn ha rừng với 4.157 hộ tham gia. Trong đó, 2.058 hộ có diện tích từ 1-3 ha, 226 hộ có diện tích từ 3 ha trở lên. Qua phong trào trồng rừng kinh tế, nhiều hộ dân đã có nguồn thu nhập ổn định.



Trao đổi với chúng tôi, đồng chí ấu Đình Chiến, Chủ tịch UBND huyện cho biết: Chủ trương chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế đã thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả. Trong thời gian ngắn, người dân đã trồng được trên 19 nghìn ha, diện tích rừng trồng đảm bảo sinh trưởng, phát triển tốt. Kết quả này là tiền đề quan trọng để Bắc Quang thực hiện chiến lược phát triển kinh tế rừng ở giai đoạn sau với yêu cầu cao hơn, đó là trồng rừng theo các chương trình, dự án với các loại cây trồng có giá trị kinh tế nhằm nâng cao thu nhập của người dân, góp phần xóa nghèo bền vững.

Báo Hà Giang
(2009-11-09)

 

Gặp "vua nấm bào ngư" trên đất Tây Đô

Email In PDF.

Từ một giáo viên dạy môn Vật lý, vì cuộc sống mưu sinh, ông lặn lội lên vùng đất "ngàn hoa" Đà Lạt lập nghiệp. Từ đây, cái tên "nấm bào ngư" bắt đầu gắn bó cùng với ông suốt 30 năm trời.

Ông Nghĩa bên những mẻ nấm thành phẩm.

Đọc thêm...
 

Bắc Ninh: 94 vùng trồng trọt tập trung

Email In PDF.

Bắc Ninh: 94 vùng trồng trọt tập trung

Những năm gần đây, thông qua phong trào xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha, ngành Nông nghiệp & PTNT tập trung tuyên truyền, vận động, hướng dẫn bà con nông dân tham gia theo hướng chỉ đạo “Liền vùng, cùng trà, khác chủ”.

Nhờ vậy đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung hiệu quả kinh tế cao. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có 30 vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, tập trung chủ yếu các huyện Yên Phong, Tiên Du, thị xã Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh với tổng diện tích 3.525 ha; 24 vùng sản xuất khoai tây đông (1.328 ha), tập trung chủ yếu tại các huyện Quế Võ, Yên Phong cho thu nhập 45-50 triệu đồng/ha/vụ đông; 35 vùng sản xuất rau tập trung (1.328 ha), cho thu nhập 120-140 triệu đồng/ha/năm; 5 vùng sản xuất hoa, cây cảnh (85 ha), cho thu nhập từ 200-220 triệu đồng/ ha/năm.


Các vùng sản xuất trồng trọt tập trung có hiệu quả kinh tế cao góp phần nâng giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha canh tác trên địa bàn tăng từ 38 triệu đồng (năm 2004) ước đạt 62 triệu đồng năm 2009).

Báo Bắc Ninh
(2009-11-07)

 
Trang 176 trong tổng số 332

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video