Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Canh tác ngô bền vững có che phủ bằng lớp thực vật

Email In PDF.

Canh tác ngô bền vững có che phủ bằng lớp thực vật

Trong những năm gần đây, Quảng Trị đã khuyến khích nông dân mở rộng sản xuất cây ngô, nhất là các giống ngô lai cho năng suất cao. Sản xuất ngô hiện nay cho hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng khác nên nhiều người dân đã chuyển đổi một số cây màu hiệu quả thấp sang trồng ngô lai và ứng dụng các tiến bộ KHKT hình thành các vùng sản xuất ngô tập trung, chuyên canh không chỉ ở vùng đồng bằng mà cả ở vùng núi. Nhờ vào sản xuất ngô, nhiều hộ nông dân đã có thu nhập khá, góp phần ổn định cuộc sống.

Đối với vùng núi, trình độ sản xuất của đồng bào còn hạn chế nên sản xuất ngô nói riêng và các loại cây trồng khác nói chung đầu tư chăm bón thấp, chủ yếu dựa vào độ phì nhiêu của đất đai, canh tác lâu ngày dẫn tới đất đai bị thoái hoá, nhất là khu vực có độ dốc lớn. Do vậy biện pháp canh tác ngô nương có che phủ bằng xác hữu cơ sẽ hạn chế được tình trạng xói mòn đất. Vật liệu để che phủ bề mặt nương sản xuất ngô là các loại tàn dư cây trồng của vụ trước hoặc thân lá thực vật hoang dại, các loại cỏ sinh khối lớn như thân ngô, lạc, rơm rạ, cỏ khô, vỏ hạt cà phê... 

Đối với những nương rẫy mà đất còn tơi xốp, không cần cày bừa, chỉ nhổ sạch cỏ dại nhưng không đốt cỏ dại mà cùng với cây trồng vụ trước và các loại vật liệu thực vật mang đến để che phủ bổ sung cho kín mặt đất. Bề dày che phủ khoảng 10 – 15 cm. Chờ khoảng nửa tháng để lớp phủ xẹp xuống, định vị tốt hơn, ẩm độ đất cao hơn sẽ tạo điều tốt hơn cho hạt nảy mầm và thoát ra khỏi lớp che phủ. 

Sau đó, tiến hành gieo thẳng hạt ngô qua lớp phủ. Nếu đất bị nén chặt thì tiến hành cày bừa đất ở vụ đầu, sau đó che phủ đất và gieo hạt. Khi bón phân, vun gốc thì vun luôn vật liệu che phủ vào gốc ngô. Qua vài vụ canh tác có phủ thảm che bằng thực vật, đất trở nên tơi xốp, không cần cày bừa làm đất nữa. 

Trên các vùng đất có độ dốc tương đối lớn thì vật liệu che phủ dễ bị nước mưa cuốn trôi, vì vậy, nên trồng các hàng cây bụi lớn theo các đường đồng mức cách nhau 6 - 7 mét để giảm dòng chảy và giữ không để vật liệu che phủ bị trôi xuống dốc. Đất giữa các đường đồng mức cũng được che phủ bằng thảm thực vật. 

Nếu vật liệu che phủ là thân ngô vụ trước thì không nên chặt mà chỉ cần đạp đổ thân ngô rồi tiến hành gieo hạt. Có thể gieo ngay sau khi thu hoạch, không phải chờ đất khô và không cần cày bừa. Trong trường hợp cần gieo cho kịp thời vụ, nhất là ngô vụ đông thì có thể trồng gối vụ. Cách làm như sau: Khi ngô đã đen râu, cần cắt lá và phần thân cây phía trên bắp để che phủ đất, sau đó gieo hạt vào giữa các hàng ngô cũ. Tiến hành thu hoạch ngô cũ vào thời điểm thích hợp và chăm sóc ngô mới như đã nêu trên. 

Mỗi hécta cần che phủ khoảng lượng xác thực vật trên dưới 6 tấn. Nên tận dụng tàn dư cây trồng của vụ trước, các loài cây họ đậu và các loài cây dại sẵn có tại địa phương. 

Biện pháp canh tác ngô nương có che phủ bằng xác hữu cơ không chỉ hạn chế được trôi rửa, thoái hóa đất mà còn cho năng suất cây trồng tương đối cao nhờ được tăng độ mùn và các chất dinh dưỡng cho đất từ thảm thực vật che phủ, đất được giữ độ ẩm tốt. Năng suất ngô có thể đạt từ 70 -75 tạ/ha, cao hơn không che phủ từ 18 tạ/ha – 25 tạ/ha.

Biện pháp canh tác này cũng phù hợp với trình độ sản xuất của đồng bào bởi ít đầu tư thâm canh mà nhờ vào sự phân hủy tự nhiên của thảm thực vật che phủ để tạo độ mùn và độ tơi xốp cho đất. Đây là một trong những phương pháp canh tác bền vững không chỉ áp dụng cho cây ngô mà còn cho nhiều loại cây trồng khác ở các vùng miền núi lẫn đồng bằng.

Báo Quảng Trị
(2009-11-21)

 

Một mô hình nuôi cá chình độc đáo, hiệu quả cao

Email In PDF.
Một mô hình nuôi cá chình độc đáo, hiệu quả cao
Một mô hình nuôi cá chình độc đáo, hiệu quả cao

Từ ba, bốn năm nay, nghề nuôi cá chình phát triển rất mạnh ở các tỉnh ĐBSCL như: Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang, Đồng Tháp… Một trong những lý do thúc đẩy nhiều người nuôi cá chình là vì cá này được xếp vào loại quý hiếm, giá trị kinh tế cao và đầu ra dễ dàng…

Lâu nay, cá chình được nuôi phổ biến trong ao đất và trong các lồng bè. Loại cá này có khả năng thích ứng với nước mặn, nước lợ và cả nước ngọt. Trong thiên nhiên, đến mùa sinh sản cá mẹ di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi có môi trường sinh thái thích hợp để đẻ trứng. Chính vì đặc điểm này mà cho tới nay vẫn chưa có nước nào nghiên cứu thành công về sinh sản nhân tạo đối với con cá chình. Tất cả con giống đều dựa vào việc đánh bắt tự nhiên nên không tránh khỏi nguồn giống trôi nổi...


Anh Nguyễn Thanh Lâm, Giám đốc công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Phú Hữu và cũng là người trực tiếp sản xuất cá giống tại xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ, cho biết: Trứng cá chình ngoài thiên nhiên, sau khi nở sẽ trôi dạt vào bờ biển, sông suối vùng nước ngọt để tự kiếm mồi. Khi trưởng thành, chúng lại di cư đến nhiều nơi để sinh trưởng.


Nguồn cá giống hiện nay nhiều nhất là ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định. Lúc mới bắt tay vào việc nuôi cá giống, anh Lâm phải ra tận miền Trung để tìm hiểu, sau đó mới tìm mối, đặt hàng và quan hệ mua bán. Nhờ có một thời gian dài kinh doanh cá giống và cá thịt nên anh đã hiểu rõ về tập tính ăn và sinh trưởng của cá, về kỹ thuật xử lý ao mương và quá trình chăm sóc cá con từ lúc mới nở đến cá ương, đặc biệt là ao ương, nhiệt độ nước ao, mật độ nuôi và cách cho ăn. Khâu nào anh cũng quan tâm, vừa nuôi vừa rút kinh nghiệm, đồng thời tham dự nhiều lớp tập huấn kỹ thuật nên năng suất và chất lượng không ngừng nâng cao.


Theo anh Lâm, cá chình là loại cá ăn tạp. Lúc còn nhỏ, thức ăn chính của chúng là động vật phù du và trùng chỉ, trùng quế. Nếu nuôi đúng kỹ thuật, sau 5 tháng có thể bán giống, loại 100 con/kg. Cá chình tuy dễ nuôi, tỷ lệ hao hụt ít nhưng người nuôi phải nắm vững tập tính sinh trưởng của chúng là thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày thường chui rúc trong hang, tối bò ra kiếm mồi. Do đó, trong hồ nuôi hoặc dưới đáy ao cần phải đặt nhiều ống sành hoặc ống nhựa cho cá trú ẩn. Mực nước trong ao ương cũng phải thay đổi tùy theo lứa tuổi của cá để giúp cho cá phát triển nhanh, đồng thời phải thường xuyên hút bớt phân rác ở đáy ao và bổ sung nước mới. Bình quân sau 25 - 30 ngày nên phân loại cá nuôi một lần theo kích cỡ lớn, bé để giúp cho cá phát triển đều và lớn nhanh.


Trước khi sản xuất con giống, anh Lâm là một trong những người nuôi cá thịt thành công ở Châu Đốc. Sau khi chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về kỹ thuật và ao hồ, anh mới bắt đầu triển khai nuôi cá giống tại ấp 2, xã Thới Hưng. Hiện tổng số mặt ao lên tới 10 ha, trong đó phần lớn dành cho con giống. Tính ra, mỗi năm anh xuất ao trên 1 tấn cá giống với giá 1 triệu đồng/kg, gồm nhiều loại: loại 100 con/kg và 50 con/kg.


Từ mô hình làm ăn có hiệu quả trên, anh đã đứng ra thành lập công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Phú Hữu kể từ tháng 6-2009 với vốn đầu tư 2 tỉ đồng. Anh Lâm cho biết, nếu thả 1.000 con chình bông (loại 20.000 đồng/con) sau khi trừ hết các chi phí, sau hơn một năm chăm sóc sẽ lời được 120 – 170 triệu đồng.


Theo tính toán của anh, bình quân 1 tấn cá thịt phải cần đến 6 tấn thức ăn, tốn mất 40 triệu đồng và các chi phí khác khoảng 50 triệu đồng. Nếu như muốn giảm chi phí, người nuôi có thể tự kiếm cá tép hoặc ốc bươu vàng bằm nhuyễn cho cá ăn. Điều quan trọng là thức ăn phải tươi sống, tuyệt đối không được hôi thúi, kết hợp với vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cá. Hướng tới anh sẽ phát triển thêm ao nuôi cá thịt để xuất khẩu sang Trung Quốc. Hiện giá thương phẩm bán cho các cơ sở thu mua ở TP Hồ Chí Minh từ 280.000 - 300.000 đồng/kg. Cá càng lớn chất lượng thịt càng ngon và giá cũng cao hơn.

Báo Cần Thơ
(2009-11-21)

 

Yên Minh trồng thành công 50 ha cây cải dầu

Email In PDF.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh về việc triển khai Chương trình trồng cây cải dầu trên các huyện vùng cao phía Bắc năm 2009, từ tháng 10 đến tháng 11, huyện Yên Minh đã xây dựng kế hoạch, đồng thời triển khai chương trình trồng cây cải dầu trên địa bàn.

Trong quá trình thực hiện, dù gặp không ít khó khăn nhưng nhờ sự quyết tâm của các cấp, các ngành nên huyện đã trồng đạt 100% diện tích kế hoạch đề ra.



Huyện Yên Minh có 1.300 ha ruộng lúa và 1.000 ha diện tích ngô 1 vụ. Trong nhiều năm trở lại đây, để nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích, giúp người dân có thu nhập, xoá đói, giảm nghèo, huyện đã nỗ lực vận động và chỉ đạo bà con đưa một số giống cây trồng phù hợp xuống chân ruộng 1 vụ. Nhờ sự cố gắng đó nên ở nhiều địa phương, người dân đã đưa giống ngô, đậu tương, rau các loại trồng trên đất lúa, ngô 1 vụ trong vụ Đông - xuân. Từ sự chuyển đổi đó, người dân đã có thêm nguồn thu và đặc biệt ý thức sản xuất tăng vụ của bà con được nâng lên một bước. Dù vậy, việc chuyển đổi ruộng từ 1 vụ sang 2 vụ vẫn còn gặp nhiều khó khăn bởi ở một số địa phương vẫn chưa tìm được cây trồng phù hợp trong vu Đông - xuân bởi điều kiện thời tiết, khí hậu không thuận lợi. Xuất phát từ ý kiến chỉ đạo của tỉnh, cũng như qua nghiên cứu về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở một số địa phương và căn cứ kết quả trồng cây cải dầu những năm 1995, 1996 trên địa bàn một số xã, huyện Yên Minh đã xây dựng phương án triển khai trồng cây cải dầu trong vụ Đông - xuân 2009- 2010 với diện tích 50 ha tại xã Thắng Mố và Du Già. Trong đó xã Du Già trồng 20 ha với 2 chủng loại giống là Hyola 61 và Miên dầu; xã Thắng Mố trồng 30 ha cải dầu giống Hyola 61.



Để kế hoạch trồng cải dầu thành công, huyện đã xây dựng các giải pháp thực hiện cụ thể. Bước đầu đã thành lập BCĐ trồng cây cải dầu cấp huyện, cấp xã, đồng thời phân công nhiệm vụ cho từng thành viên. Trong quá trình chăm sóc, Trạm Khuyến nông huyện và Trạm Bảo vệ thực vật trực tiếp theo dõi, hướng dẫn bà con kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Huyện cũng đã cử 3 cán bộ xuống nằm tại xã để chỉ đạo, giám sát việc thực hiện chương trình. Là năm đầu tiên triển khai nên huyện sẽ hỗ trợ cho các hộ dân 100% giống, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật và hướng dẫn kỹ thuật với tổng kinh phí hỗ trợ trên 280 triệu đồng. Về đầu ra, sau khi thu hoạch tỉnh sẽ thu mua toàn bộ sản phẩm cho bà con theo giá thoả thuận tạm tính là 8.000 đồng/1kg. Và để đảm bảo chương trình thành công, huyện đã cho người dân trong vùng trồng cây cải dầu ký kết 3 bên giữa UBND xã, Trạm Khuyến nông và các hộ.



Anh Giang Đức Hiệp, Trưởng trạm Khuyến nông huyện cho biết: Khi triển khai chương trình, do có sự tuyên truyền, vận động về chủ trương, mục đích nên người dân đã hiểu và đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã gặp khó khăn về cung ứng giống cũng như điều kiện thời tiết khô hạn dẫn đến việc làm đất chậm. Tuy nhiên, đến thời điểm này, người dân đã hoàn thành trồng 50 ha cải dầu. Tuy nhiên, một số diện tích đã mọc xuất hiện sâu bệnh hại, Trạm Khuyến nông đã cung ứng thuốc và chỉ đạo phun lần 1. Nói về chương trình trồng cây cải dầu, ông Thào Nỏ Cho, xóm Khán Chồ, xã Thắng Mố đánh giá: “Các hộ gia đình trong thôn cũng như trong xã tôi đều đồng tình với chủ trương trồng cây cải dầu nên đã tích cực tham gia thực hiện. Do những năm trước người dân chúng tôi đã trồng cây cải dầu trên địa bàn và đã cho kết quả, tuy nhiên sản phẩm làm ra không được thu mua nên bà con không mở rộng được. Bây giờ Nhà nước thu mua bà con rất vui, chắc chắc cây cải dầu sẽ sống tốt ở đây và người dân chúng tôi sẽ có thêm nguồn thu để cuộc sống no đủ hơn”.



Hiện tại, bà con đang theo dõi sát sao quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cải dầu. Hy vọng rằng, với sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, sự quyết tâm của các ngành, các cấp cũng như được sự ủng hộ của người dân, mô hình trồng cây cải dầu ở Yên Minh nói riêng và các huyện vùng cao nói chung sẽ giành thắng lợi, mở ra hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp trên các huyện vùng cao của tỉnh.

Báo Hà Giang
(2009-11-21)

 

Thanh Thủy cần chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phát triển

Email In PDF.

Nằm cách trung tâm thị xã Hà Giang hơn 20 km, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên có hơn 7 km đường biên giới giáp với nước bạn Trung Quốc và được coi là một trong những xã có nhiều tiềm năng, lợi thế thuận lợi để phát triển KT-XH.


Toàn xã hiện có 7 thôn bản với trên 2 nghìn nhân khẩu sinh sống ở 433 hộ, trong đó dân tộc Tày và Dao chiếm đa số. Năm 2008, bình quân thu nhập đầu người đạt trên 5 triệu đồng/người/năm; lương thực bình quân đầu người đạt 490 kg/người/năm. Dự kiến năm 2009, con số này sẽ cao hơn.



Trong vài năm trở lại đây, cùng vớisự năng động, đổi mớicủa từng cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc,các chỉ tiêu về phát triển KT-XH của xã hầu hết đều đạt và vượt chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra. Tuy nhiên so với tiềm năng, lợi thế và sự quan tâm đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, một số mục tiêu chính vẫn chưa đạt, chưa đáp ứng được so với yêu cầu đề ra. Trăn trở về điều này, Bí thư Đảng ủy xã Nông Hùng Cường cho biết: Đến nay toàn xã mới có 20 hộ giàu trên tổng số 433 hộ, 43 hộ khá và hộ nghèo là 123 hộ, chiếm gần 29%, trong đó có 570 người nghèo. Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là đường giao thông, nhất là vào mùa mưa đi đến các thôn vùng cao như: Nậm Ngặt, Lùng Đóoc, Nà Toong… mà đây lại là những thôn có tiềm năng để phát triển chè, thảo quả và chăn nuôi gia súc. Đặc biệt đến nay, hầu hết các thôn trên địa bàn xã đều chưa được sử dụng điện lưới Quốc gia, ngay ở thôn Giang Nam, thôn thuộc trung tâm xã cũng mới chỉ có điện cho các hộ gia đình ở khu trung tâm. Những điều này đã và đang làm hạn chế đến tốc độ phát triển KT-XH của xã Thanh Thủy trong những năm qua…



Có thể từ những nguyên nhân trên nên tốc độ phát triển kinh tế của xã Thanh Thủy trong 10 tháng đầu năm 2009 chưa có nhiều sự nổi trội, nguồn thu chủ yếu vẫn là do ngân sách trên cấp. Đối với sản xuất nông nghiệp một phần do thiên tai, thời tiết hạn hán hoặc mưa lũ kéo dài, gây ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng, do đó các loại cây lương thực chính như: Lúa, ngô, lạc đều không đạt về năng suất cũng như sản lượng so với kế hoạch xã và huyện giao, chỉ một số cây rau đậu các loại là đạt chỉ tiêu song chỉ ở mức diện tích nhỏ nên sản lượng ít. Điều này cho thấy, phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp ở xã Thanh Thủy còn chưa phát huy đúng tiềm năng, lợi thế và phần lớn vẫn còn là sản xuất, canh tác theo kiểu tự phát, nhỏ lẻ, chưa thực hiện tốt thâm canh tăng năng suất hoặc chăn nuôihàng hóa và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung có điều kiện như phát triển vùng chè, thảo quả ở các thôn vùng cao Nùng Đóoc, Cóc Nghè, Nậm Ngặt, hoặc phát triển chăn nuôi gia súc, thủy sản ở các thôn vùng thấp…



Để khắc phục được điều này, Đảng ủy xã cũng đã sớm đề ra Nghị quyết chuyên đề, trong đó tập trung chủ yếu vào phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và đào ao thả cá ở các thôn vùng thấp có điều kiện thuận lợi, các thôn vùng cao tập trung cho phát triển cây chè và cây thảo quả. Hiện tại toàn xã có trên 162 ha chè, trong đó có trên 141 ha đang cho thu hoạch, năng suất đạt 20 tạ/ha, sản lượng đạt khoảng 28 tấn mỗi năm; có trên 20 ha thảo quả đang trong thời kỳ chuẩn bị cho thu hoạch và có khoảng 6 ha ao thả cá… Tuy nhiên sản phẩm bán ra thị trường của những mặt hàng trên còn rất ít…




Từ thực tế đó trong thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền và bà con nhân dân trong xã đã nỗ lực đưa chăn nuôi trở thành một ngành chính, không chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ của người dân mà còn trở thành hàng hoá, mang lại lợi nhuận. Qua đó đã xuất hiện nhiều hộ gia đình ở thôn Thanh Sơn đang tích cực trong chăn nuôi lợn hàng hóa, đem lại nguồn thu đáng kể cho gia đình, từng bước xoá bỏ tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ, lạc hậu, năng suất thấp, bước đầu tạo ranguồn hàng hoá, phát triển kinh tế gia đình từ tiềm năng, thế mạnh của địa phương.



Cùng với việc đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong phát triển nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tính đến đầu tháng 11, xã đã cơ hoàn thành chỉ tiêu xóa nhà tạm cho 36 hộ gia đình theo Chương trình 167; sự nghiệp y tế, giáo dục được đặc biệt quan tâm. Trong 9 tháng đầu năm, đã khám và điều trị cho trên 1.500 lượt bệnh nhân, thực hiện tốt các chương trình y tế Quốc gia và các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục, tỷ lệ huy động trẻ đến trường bậc THCS năm học 2009-2010 đạt 98%; bậc Tiểu học đạt 99,7%. Hiện tại xã đã có trường bán trú dân nuôi và lớp nội trú miền, ngoài phục vụ cho các em học sinh bậc Tiểu học và Mầm non còn thu hút học sinh ở các xã lân cận. Hy vọng với những công trình và cơ sở hạ tầng đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, Thanh Thủy sẽ sớm có những chuyển biến tích cực, xứng đáng là một xã biên giới có cửa khẩu Quốc gia và những công trình trọng điểm của tỉnh.

Báo Hà Giang
(2009-11-21)

 

Để rừng Mèo Vạc thêm xanh

Email In PDF.
Để rừng Mèo Vạc thêm xanh
Để rừng Mèo Vạc thêm xanh

Nhằm thực hiện chỉ tiêu Nhà nước năm 2009 về Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; trong thời gian qua, Ban Quản lý dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng (QLDAĐTBV & PTR) huyện Mèo Vạc đã và đang tích cực triển khai tiến độ Dự án, qua đó được sự đồng thuận, hưởng ứng nhiệt tình của chính quyền huyện và đồng bào, nhân dân các xã.

Thời gian qua, trên địa bàn huyện Mèo Vạc liên tục xảy ra mưa lũ kéo dài, gây sạt, lở nghiêm trọng nhiều tuyến đường trọng yếu từ huyện vào 3 xã biên giới và xã Nậm Ban, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân, nguyên nhân chính đó là nhiều khu rừng đầu nguồn có hiện tượng suy giảm về số lượng, các khu rừng trọng yếu bị chuyển đổi để khai thác khiến vành đai bảo vệ rừng ngày càng suy kiệt, và dẫn đến nhiều hệ lụy khác như nguồn nước cạn kiệt, độ PH trong đất suy giảm và điều tất yếu là cuộc sống của nhân dân, đồng bào nơi đây đã khó khăn nay lại càng khó khăn thêm…



Nhận rõ được tầm quan trọng của công tác trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi, núi trọc, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao chấtlượng đời sống người dân, ngay từ đầu năm 2009, UBND huyện Mèo Vạc đã chỉ đạo Ban QLDA tiến hành tổ chức, chỉ đạo nhân dân khoanh nuôi bảo vệ rừng, đồng thời Ban QLDA phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tiến hành tập huấn hướng dẫn quy trình chăm sóc bảo vệ, PCCCR cho nhân dân theo đúng quy trình quy phạm kỹ thuật. Cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Sở Nông nghiệp & PTNT, BQLDA 661 tỉnh đã tăng cường cán bộ trực tiếp cùng với BQLDA huyện, nhân dân các xã thực hiện Dự án ĐTBV & PTR. Chính sự quan tâm của các cấp, các ngành, các đoàn thể trong tỉnh cùng với sự đầu tư hỗ trợ gạo, nguồn vốn hợp lý, kịp thời của Nhà nước đã làm thay đổi cơ bản nhận thức của nhân dân, phong trào thi đua trồng, cải tạo và chăm sóc rừng tại huyện Mèo Vạc ngày càng chuyển biến mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến độ của Dự án.



Chúng tôi có mặt tại BQLDAĐT&PTR huyện Mèo Vạc khi chương trình trồng và bảo vệ rừng của Ban QLDA đang vào thời điểm mang tính quyết định. Mới 6h sáng, chuông điện thoại đổ dồn, Phó ban QLDAĐT & PTR huyện Mèo Vạc Vũ Thành Lâm nói nhanh qua điện thoại: “Vào rừng thôi, các nhà báo!”. 4 chiếc xe Win nổ giòn dã lao đi khi những cánh rừng giáp biên còn mù đặc hơi sương. Hơn một tiếng đồng hồ trên những khúc cua ngoằn ngoèo, hơi sương đã thấm lạnh… Thành Lâm cười vang “Anh em trong Ban QLDAĐT & PTR huyện đi tuần cả 2 đêm nay trên rừng đầu nguồn Chi Sán rồi, hôm nay đang tập hợp dân các thôn bản xã Tát Ngà, Niêm Sơn đi trồng rừng dự án đấy, vui như trẩy hội anh ạ”.



8h sáng, từ trong các thôn, bản, nhân dân đã được thông báo, với những dụng cụ: Cuốc, xẻng, gùi cây giống... hăng hái tập hợp, sẵn sàng cho một ngày mới trồng rừng. Theo số liệu thống kê, số diện tích rừng thuộc diện khoanh nuôi và bảo vệ của huyện là 17.041,45 ha. Riêng tháng 8.2009, Dự án đã phối hợp cùng UBND các xã, thị trấn chỉ đạo nhân dân trồng hoàn thành 100 ha rừng sản xuất và 150 ha rừng phòng hộ, hoàn thành 100% kế hoạch UBND tỉnh giao. Ngoài diện tích trồng rừng trong KH được giao, BQLDAĐTBV&PTR huyện đã phối hợp cùng nhân tiếp tục trồng rừng vượt 400 ha rừng, trong đó có 300 ha rừng phòng hộ, 100 ha rừng sản xuất. Trồng rừng đã là khó, nhưng việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng lại càng khó hơn. Do vậy, công tác tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng là biện pháp cấp thiết. Từ đầu năm 2009, Ban Quản lý dự án đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện, UBND các xã, thị trấn, tổ chức 28 lớp tập huấn cho 1.400 lượt người; cắm biển báo bảo vệ rừng 18/18 xã với 145 biển/145 thôn, bản. Bên cạnh đó, Dự án phối hợp với Công ty lương thực tỉnh cấp phát đợt I cho dân 130,927 tấn gạo tại 18 xã, thị trấn với 174 thôn bản cho 1.530 hộ gia đình; đợt 2 được 8/13 xã với 62,646 tấn, đạt 68,92% kế hoạch.



Anh Vũ Thành Lâm, Phó Giám đốc điều hành Dự án QLĐTBV & PTR huyện Mèo Vạc, tâm sự: “Từkhi có quyết định hỗ trợ của Nhà nước cho dân để trồng rừng, đồng bào, nhân dân các xã rất phấn khởi và tin tưởng vào sự điều hành của dự án. Nhân dân vừa trồng rừng vừa bảo vệ rừng, đó là một trong những tín hiệu tốt lành thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong công tác vận động, hỗ trợ nhân dân 4 huyện vùng Cao nguyên đá phát triển trồng rừng theo Dự án. Tính đến thời điểm hiện tại, được sự phối hợp đồng bộ của các ban, ngành, đoàn thể, Ban QLDAĐTBV&PTR đã bảo vệ được 15.841,35 ha rừng, trong đó: Bảo vệ rừng trồng năm I được 80 ha, rừng tự nhiên năm I là 4.539,35 ha; bảo vệ rừng tự nhiên năm 2, thực hiện được 7.662,5 ha/6500 ha KH đạt 117,9%, rừng trồng thực hiện được 355,5 ha, hoàn thành 100% kế hoạch. Các năm 3,4 và 5 Dự án đang tiếp tục hoàn thành tiến độ dự án và được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía chính quyền cơ sở, đặc biệt là từ người dân…”.



Tuy nhiên công tác bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng sản xuất, khoanh nuôi bảo vệ và phục hồi rừng cũng gặp không ít những khó khăn, đó là: Nguồn vốn ngân sách chi xuống Dự án còn chậm, tình trạng chặt phá rừng liên tiếp xảy ra tại các khu rừng xung yếu, và nguy hiểm hơn là một số hộ dân do hạn chế về mặt nhận thức và vì quyền lợi riêng đã chặt phá cây rừng năm 2, 3 làm củi đun, làm hàng rào... gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.



Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mèo Vạc Nguyễn Minh Vượng khẳng định: “Tình trạng chặt phá rừng do “lâm tặc” vẫn còn xảy ra, cơ cấu hoạt động ngày một tinh vi hơn. Trong thời gian tới, lực lượng Kiểm lâm huyện sẽ phối hợp với lực lượng Công an huyện, lực lượng của Ban quản lý Dự án tiến hành nhiều đợt truy quét, quyết tâm trả lại màu xanh của núi rừng Cao nguyên đá…”

Báo Hà Giang
(2009-11-21)

 

“Chợ công nghệ” giới thiệu nhiều sáng chế của "Hai lúa"

Email In PDF.
Tại "Chợ thiết bị và công nghệ Việt Nam ASEAN+3" người xem có thể thấy nhiều sáng chế của các nhà sáng tạo quần chúng, từ những vật dụng đơn giản như máy bắt ruồi không sử dụng hóa chất, giá thành chỉ hơn 100.000đ/cái đến giàn ăng ten, sóng vàng siêu bền, xe đạp cơ công nghệ mới...
Đọc thêm...
 

Anh Trương Nuôi với kinh nghiệm trồng quýt Thái Lan trến đất núi

Email In PDF.

Thời gian gần đây, nhiều hộ dân ở Quảng Ngãi đã có những bước đi táo bạo trong cách nghĩ và cách làm, nhiều mô hình cây trồng, vật nuôi mới lạ đã được mạnh dạn đưa vào sản xuất thử nghiệm và đã cho kết quả khả quan; trong đó có mô hình trồng quýt Thái Lan trên đất núi của anh Trương Nuôi, ở thôn Tân An xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ.

Đọc thêm...
 

Nuôi "rồng đất" giữa phố

Email In PDF.

Nổng cát sát bàu Tràm thuộc địa phận tổ 12 Xuân Thiều, phường Hoà Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, cách quốc lộ 1A hơn 100 m về phía tây đang là nơi nuôi kỳ đà lý tưởng.

Ông Nguyễn Ngọc Lan, người nhiều năm phát triển kinh tế trang trại tại Liên Chiểu sớm nhận ra tiềm năng vùng cát trắng sát khu dân cư này mạnh dạn đầu tư xây dựng cơ ngơi, mua con giống từ Bình Thuận về thả nuôi. Mới 6 tháng kể từ ngày lứa giống đầu tiên đưa về, ông đã khẳng định: "Rồng đất", tức kỳ đà là loài vật dễ nuôi, ít bệnh tật, không gây hại đến môi trường sinh thái, hiệu quả kinh tế rất cao.

Đọc thêm...
 

Bình Định: Mô hình trồng mía giống mới có hiệu quả

Email In PDF.
Giống mía K84-200 là giống mía mới do Công ty cổ phần đường Bình Định nhập tỉnh, nhân giống và sản xuất trong mấy năm gần đây, có những đặc trưng đặc tính chủ yếu:
Đọc thêm...
 
Trang 176 trong tổng số 336

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video