Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Lạng Sơn: Trồng nấm trong môi trường hang động tự nhiên

Email In PDF.

Chúng tôi đến đúng vào dịp lứa nấm sò cuối cùng đang được các nhân công của Trung tâm khẩn trương thu hoạch để xuất bán. Đây là mô hình sản xuất, nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu trong môi trường hang động tự nhiên do Trung tâm nuôi trồng, sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu (Công ty cổ phần Ngân Sơn) thực hiện tại thôn Tòng Chu, xã Hoàng Văn Thụ huyện Bình Gia ( Lạng Sơn) từ tháng 12/2008.

Đọc thêm...
 

Cây ổi trên đất vải

Email In PDF.

Cây ổi trên đất vải

Những năm gần đây, nhà vườn xã Liên Mạc (Thanh Hà - Hải Dương) thực hiện chuyển đổi diện tích vải không hiệu quả sang trồng ổi cho thu nhập cao. Không những vậy, người dân còn thành công trong việc cho ổi ra quả trái vụ, hướng đến sản xuất giống ổi chất lượng cao.


“Thay máu" cây trồng


Giờ đây, đến Liên Mạc có thể dễ dàng nhận ra sự giàu có của vùng quê này với những ngôi nhà cao tầng mọc lên san sát cùng cánh đồng ổi bạt ngàn. Khó có thể hình dung, chỉ trong mấy năm, cây ổi đã giúp Liên Mạc thay da, đổi thịt. Từ khi người dân triển khai trồng ổi trên diện rộng, loại cây này không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn giúp nhiều gia đình vươn lên làm giàu với thu nhập trên 100 triệu đồng/năm.


Trước đây, nhắc đến huyện Thanh Hà, người ta nghĩ ngay cây trồng chủ đạo là vải. Liên Mạc cũng là một trong những địa phương có diện tích trồng vải lớn. Đã có thời, cây vải giúp người dân nơi đây thoát đói nghèo. Tuy nhiên, thời gian sau vải rớt giá khiến bà con lao đao. Một số hộ dân đã lên Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm lấy giống ổi về trồng thí điểm. Nhận thấy tiềm năng từ loại cây này, chính quyền địa phương đã mời cán bộ của Viện về hướng dẫn kỹ thuật, đồng thời triển khai ra diện rộng.


Ông Tiêu Công Tiến, Chủ tịch UBND xã Liên Mạc cho biết: “Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn xã là 480ha, trong đó có tới 350ha trồng ổi. Năm 2008, toàn xã thu được 3.215 tấn ổi, giá bán trung bình 6.000 đồng/kg, mang lại nguồn thu hơn 19 tỷ đồng”.


Nhận thấy hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ mạnh dạn mở rộng diện tích ổi bằng cách đấu thầu ruộng, mua lại đất vườn để trồng với quy mô lớn. Nhờ vậy, trong năm 2008, xã đã có hơn 30 hộ thu lãi 100 triệu đồng/năm từ ổi, như anh Nguyễn Duy Chương ở thôn Mạc Thủ 2, anh Lưu Văn Mạnh ở thôn Tiêu Xá...


Anh Đào Xuân Đán ở thôn Văn Mạc chia sẻ: “So với trồng vải, lúa thì trồng ổi cho lợi nhuận cao hơn. Cây ổi nhanh cho thu hoạch, cứ khoảng 5 tháng sẽ cho bán 1 lứa. Giá ổi tương đối ổn định, đặc biệt vào thời điểm giáp Tết, có khi đạt 11.000 - 12.000 đồng/kg”.


Với 1,3 mẫu ổi (1 mẫu = 3.600m2), năm 2008, gia đình anh Đán thu hoạch được 16 tấn quả. Trừ chi phí, anh thu lãi gần 100 triệu đồng.


Áp dụng công nghệ sinh học


Theo ông Phạm Văn Hiếu, Chủ tịch Hội Nông dân xã: “Những năm gần đây, nhiều nông dân đã mày mò điều chỉnh cho ổi ra quả trái vụ nên đạt hiệu quả kinh tế rất cao”.


Mặc dù vậy, theo người dân nơi đây, cây ổi cũng rất dễ mắc bệnh, đặc biệt là dịch ruồi vàng. Trong 2 năm (2005 - 2006) dịch ruồi vàng hoành hành, nhà vườn loay hoay không biết diệt trừ thế nào nên sản lượng ổi trái vụ giảm khoảng 30% khiến nhiều hộ trắng tay. Trước tình hình đó, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương đã nghiên cứu, hướng dẫn bà con dùng bả prôtêin để diệt ruồi vàng.


Bằng công nghệ sinh học, dịch ruồi vàng được diệt trừ, qua đó, nông dân Liên Mạc đã đúc rút kinh nghiệm, đồng thời áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tránh phun thuốc trừ sâu lên quả ổi. Nếu như trước đây, bà con dùng túi nylon để bọc trái chỉ để tránh sương mai gây rám ổi, quả ổi cũng chỉ được bọc khi đã to thì nay ổi mới chỉ bằng đầu ngón tay, người dân đã bao trái. Do đó, trong suốt quá trình phát triển, tất cả các loại thuốc trừ sâu được phun lên cây đều không thể xâm nhập vào quả nên đảm bảo an toàn cho người sử dụng.


Theo ông Tiến, trong thời gian tới, xã sẽ tiếp tục khuyến cáo người dân thực hiện chuyển đổi vùng trũng không thuận lợi thâm canh cây vải sang trồng ổi, đồng thời mở nhiều lớp chuyển giao kỹ thuật cho người dân. Phấn đấu năm 2009, toàn xã sẽ đạt doanh thu khoảng 21 tỷ đồng từ ổi.

Báo Nông nghiệp
(2009-05-20)

 

Cách tái canh cà phê đạt hiệu quả

Email In PDF.

Cách tái canh cà phê đạt hiệu quả

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội cà phê – ca cao Việt Nam, trong vòng từ 3 – 5 năm tới, diện tích cà phê có độ tuổi trên 20 năm sẽ chiếm gần 50% trong tổng diện tích 520 ngàn ha cà phê cả nước. Diện tích nànăng suất cao nữa mà cần phải thanh lý để thay thế trồng mới.

Trên thực tế, hiện nay nhiều hộ nông dân ở Tây Nguyên đang thực hiện việc tái canh vườn cà phê già cỗi của mình ngay sau khi thanh lý nhưng kết quả đã không như mong muốn. Chỉ sau 2 – 3 năm trồng, cây cà phê tái canh trên các diện tích thanh lý đã bị vàng lá, còi cọc, rễ tơ bị thối, cây phát triển kém không mang lại hiệu quả kinh tế nên phải tiếp tục thanh lý, gây tốn kém cho người dân.


Để việc tái canh cà phê mang lại hiệu quả, bà con nông dân cần tiến hành các bước sau:


Trước hết, bà con dùng máy nhổ hoặc đào để đưa toàn bộ thân, cành, lá và bộ rễ ra khỏi vườn cây.


Thứ hai, sau khi thu dọn hết cây thì tiến hành cày bừa: Dùng cày một lưỡi, cày ở độ sâu 40cm hai lượt theo chiều dọc và chiều ngang của vườn, sau đó dùng bừa có răng dài 20 – 30cm để bừa 2 lần, rà rễ theo chiều dọc và chiều ngang của vườn. Trong quá trình cày bừa, cần lượm hết toàn bộ rễ còn sót lại để đem đi đốt.


Thứ ba là cần trồng luân canh các loại cây trồng khác từ 3 – 4 năm trước khi trồng lại cà phê nhằm cắt đứt nguồn sâu bệnh, nhất là các loại sâu bệnh sinh ra từ đất. Các loại cây trồng có thể trồng luân canh trong vườn gồm ngô, vừng, khoai, sắn, đậu đỗ các loại…


Thứ tư, khi trồng cà phê mới, cần phải tuân thủ đầy đủ quy trình kỹ thuật sau:


Cây giống phải đạt tiêu chuẩn, sạch bệnh nhất là các loại bệnh như tuyến trùng, nấm bệnh trong bầu đất; có phân hữu cơ bón lót từ 15 – 20kg/hố; làm bồn tủ gốc, trồng cây che nắng, gió tạm thời; trồng cây trồng xen để che phủ cải tạo đất và tưới nước nếu thấy cần thiết.


Trên các diện tích cà phê tái canh thường xuất hiện cây chết rải rác hoặc sinh trưởng kém, cần phải nhổ bỏ, xử lý hố bằng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ tuyến trùng, nấm bệnh và trồng lại. Quá trình này cần được tiến hành thường xuyên trong những năm đầu. Sau vài ba năm vườn cây sẽ ổn định và bước vào thời kỳ kinh doanh.

Báo Nông nghiệp
(2009-05-19)

 

Thoái hóa giống: Nguyên nhân và cách khắc phục

Email In PDF.

Thoái hóa giống: Nguyên nhân và cách khắc phục

Chất lượng giống chính là độ đồng đều, độ thuần di truyền của giống. Tuy nhiên giống có duy trì và giữ được độ thuần hay không còn tùy thuộc vào điều kiện canh tác cũng như yếu tố môi trường mà cây lúa phải gánh chịu, v.v... Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã kết luận: Sự thoái hóa giống (độ thuần di truyền) giảm sút là do các nguyên nhân chính sau đây:

1. Giống bị lẫn tạp do yếu tố cơ giới gây nên, đây là nguyên nhân chủ yếu, có thể nói đến trên 80% là do nguyên nhân này gây ra như: khi thu hoạch, khâu tuốt nhai lúa mà không chú ý đến khâu phơi khô, rê sạch, làm sạch máy móc; không làm sạch sân phơi, bao bì không sạch, gieo sạ còn bị lẫn nền cũ còn lúa ma, nói chung tất cả các yếu tố cơ giới thực hiện trong quá trình sản xuất không làm đúng quy trình thì đều gây nên sự lẫn tạp và sẽ gây nên sự thoái hóa giống.


2. Do quá trình thụ phấn chéo của cây lúa. Hoa lúa là loại hoa tự thụ song quá trình thụ phấn chéo, phấn lạ bay tới nó cũng được thụ phấn, chính vì vậy mà quy trình sản xuất giống lúa nguyên chủng và siêu nguyên chủng phải cách ly giữa các giống ít nhất phải được 5-10m. Hiện tượng này chiếm từ 2-5% tùy từng giống và điều kiện thời tiết, xảy ra nghiêm trọng nhất khi cây lúa trỗ tung phấn gặp điều kiện gió lớn.


3. Quá trình canh tác không phù hợp cho giống đó như bón phân không cân đối, các giống lúa bị nhiễm sâu bệnh và cây lúa phải chịu các điều kiện khí hậu thời tiết khác như nóng quá hoặc rét quá cũng gây nên sự thoái hóa giống.


4. Do điều kiện bất lợi về khí hậu thời tiết gây ra cụ thể như: quá khô hạn, ngập lụt kéo dài, nhiệt độ cao, bức xạ chiếu sáng lớn, sấm sét... cũng có thể gây ra sự đột biến cấu trúc của gene làm giống phân ly ra nhiều dạng hình, nhiều tầng giống dẫn đến năng suất giảm.


Hầu hết các giống được Viện lúa phóng thích, hay du nhập từ nước ngoài như: IR64, VD920, hay các giống du nhập từ Viện lúa quốc tế IRRI mang tên MTL của trường Đại học Cần Thơ vv... ở ngoài sản xuất trước những năm 2000 cũng đã bị thoái hóa trầm trọng. Mặt khác dưới tác động chọn lại của các nhà tạo giống nó đã được tách ra từ một dòng thuần và tạo nên một giống từ những giống phân ly đó ví dụ như giống IR841 chính là một giống gốc của jasmine-85; hay giống IR50404 cũng đã lọc ra nhiều dòng giống khác nhau như: IR50404 gốc tím, nhị vàng, 85 ngày vv... Vì vậy cứ sau 2 vụ bắt buộc bà con lại phải về cơ sở sản xuất giống nhận, hoặc mua lại giống xác nhận. Tuyệt đối không nên sản xuất một giống trong nhiều vụ, nhiều năm trên cùng một thửa ruộng.


Cách khắc phục tình trạng thoái hóa giống: Các phương pháp khắc phục cũng dựa trên các nguyên nhân trên, cụ thể cần:


+ Chọn giống có độ thuần cao, có nguồn gốc rõ ràng với tên giống cụ thể, cơ quan nào sản xuất, người sản xuất và ngày kiểm nghiệm cũng như thời hạn sử dụng. Chất lượng giống lúa và tiêu chuẩn hóa cho ngành phải thực hiện theo tiêu chuẩn bảng 1 mà Bộ NN-PTNT đã ban hành


* Về khía cạnh canh tác:


+ Chú ý làm vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo sạ, làm sạch lúa lẫn ở nền cũ.


+ Cày bừa trục kỹ, tơi nhuyễn, bằng phẳng không để đọng nước chỗ lung...


+ Sạ thưa theo hàng, áp dụng biện pháp 3 giảm 3 tăng để kiểm soát cỏ và lúa lẫn của giống khác.


+ Bón phân cân đối theo phương pháp 4 đúng.


+ Phải chú ý khử lẫn ở 4 giai đoạn của cây lúa: đẻ nhánh, trước trỗ, sau trỗ 80%, chín và thu hoạch.


* Về chế biến, bảo quản và thu hoạch:


+ Thu hoạch đúng độ chín.


+ Máy tuốt nhai, máy rê trước khi hoạt động phải được làm sạch thật kỹ bảo đảm không có hạt giống lẫn khác ở trong máy.


+ Vệ sinh sân phơi, bao bì và các dụng cụ lao động khác nhất là công nhân phơi sấy lúa.


Trên đây là một số biện pháp cơ bản khắc phục tình trạng giống bị lẫn tạp và thoái hóa, bà con nông dân nên chú ý khi canh tác trong tất cả các khâu từ khi mua và nhận giống xác nhận từ công ty hay đại lý giống, phải nắm rõ lai lịch giống, vận dụng theo phương pháp trên dứt khoát bà con sẽ thu được vụ mùa bội thu.

Báo Nông nghiệp
(2009-05-19)

 

Chọn và xử lý thóc giống liền vụ

Email In PDF.

Chọn và xử lý thóc giống liền vụ

Vụ mùa nhiều khi thiếu thóc giống tốt, để chủ động giống lúa gieo cấy kịp thời vụ không ít bà con nông dân gặt lúa liền vụ làm giống cho vụ sau. Xin giới thiệu cách chọn và ngâm ủ thóc liền vụ có tỷ lệ nảy mầm cao:

Chọn những ruộng lúa gieo cấy vụ trước bằng giống nguyên chủng hoặc giống xác nhận, giống tiến bộ kỹ thuật có năng suất, chất lượng tốt để làm giống cho vụ sau. Gặt bỏ những cây lúa lẫn, lúa cỏ trước khi thu hoạch. Vệ sinh sạch sẽ sân phơi, dụng cụ tuốt, đập, bảo quản tránh lẫn tạp cơ giới khi thu hoạch. Chọn những ngày nắng ráo để thu hoạch lúa giống. Khi lúa gặt về cần tuốt ngay, sàng sẩy, loại bỏ rơm, rạ và hạt lửng lép. Nếu trời nắng phải phơi ngay, nếu trời mưa bất ngờ rải thóc thành lớp mỏng, tránh dồn thóc thành đống cao dễ làm hạt giảm sức nảy mầm.


Với các giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 90-120 ngày như: CN2, KD18; Q5; AIT77…, khi thời vụ đã đến, đòi hỏi cần giống ngay, bà con có thể gặt lúa chín đỏ đuôi tuốt lúa xong không cần phơi, đem ngâm ngay dưới ao, hồ trong thời gian 72 giờ (3 ngày 3 đêm). Nếu không ngâm hạt giống dưới ao, sông, hồ mà phải ngâm dưới chậu, thùng chum, vại thay nước thường xuyên 4 đến 6 giờ/lần, cho lượng nước ngập trên thóc ít nhất 20cm, để nơi râm mát, sau đãi sạch nước chua đem ủ bình thường, tỷ lệ nảy mầm đạt trên 75%.


Khi thời vụ cho phép, bà con cần phơi thật giòn 3-4 nắng to, sau rải thóc qua đêm trên nền nhà, đem ngâm 72 giờ bằng nước sạch cũng cho tỷ lệ nảy mầm cao trên 85%.


Bà con có thể dùng supe lân Lâm Thao hoà nước với nồng độ 5-10% hoặc chế phẩm Lupain, ngâm thóc giống trong 12-24 giờ, sau đó tiếp tục ngâm 36-48 giờ bằng nước sạch cũng nâng cao thêm tỷ lệ nảy mầm của hạt giống liền vụ, đạt 85-90%.


Nếu có điều kiện, tốt nhất bà con dùng dung dịch a xít nitơric HNO3 với nồng độ 0,2-0,3% ngâm trong 24 giờ, sau đó ngâm tiếp 36 giờ bằng nước sạch đều cho kết quả cao đối với mọi loại thóc (mới gặt chưa phơi hoặc đã phơi giòn), tỷ lệ nảy mầm đạt  > 90%.


Chú ý: Với loại thóc phơi chưa khô thật thì tỷ lệ nảy mầm đều rất thấp cho dù có áp dụng các biện pháp trên.

Báo Nông nghiệp
(2009-05-19)

 
Trang 357 trong tổng số 515

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video