Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Phú Thọ: Tuổi trẻ lập nghiệp trên đồi, rừng quê hương

Email In PDF.

Là một đảng viên trẻ, Uỷ viên Ban thường vụ Đoàn, cán bộ khuyến nông xã Phù Ninh (huyện Phù Ninh), Nguyễn Ngọc Bảy (sinh năm 1980) càng thấm hiểu phong trào "Thanh niên lập nghiệp, bảo vệ Tổ quốc" và những lời Bác dặn lớp thanh niên. Cũng như bao cán bộ đoàn khác, anh suy nghĩ rất nhiều về tình trạng thiếu việc làm của thanh niên quê mình. Làm gì để thoát nghèo, để lớp thanh niên quê mình bớt cảnh "ly hương". Chính điều đó đã thôi thúc, ấp ủ trong anh quyết tâm làm giầu trên chính mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên.

Đọc thêm...
 

Một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi

Email In PDF.

Một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi

Trong cơ cấu thuỷ sản của tỉnh, sản lượng cá rô phi hàng năm khoảng 700-1.000 tấn, góp phần nâng cao năng suất, giá trị kinh tế của sản xuất thuỷ sản thời gian qua.

Do sản phẩm cá rô phi hiện nay được rất nhiều người dân ưa chuộng, tiêu thụ nhiều tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh. Giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm khá thuận lợi, ổn định vì vậy đã khuyến khích phong trào nuôi cá rô phi ở nhiều địa phương như: Đình Bảng (thị xã Từ Sơn), Bình Dương (Gia Bình) ngày càng phát triển với các phương thức nuôi đơn, nuôi ghép, năng suất nuôi thâm canh đạt 7-10 tấn/ha. Tuy nhiên, để khai thác có hiệu quả diện tích mặt nước hiện có, tận dụng tốt các điều kiện về khoa học kỹ thuật, thị trường; góp phần nâng cao tỷ trọng trong cơ cấu thuỷ sản thả nuôi, từng bước tạo ra các vùng chuyên canh cá rô phi tập trung, hàng hoá trong thời gian tới cần quan tâm thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và hiệu quả.


Trước hết, trong công tác định hướng quy hoạch các vùng nuôi rô phi cần quan tâm lựa chọn các vùng mà người dân có điều kiện về vốn, thị trường, kỹ thuật như: Đình Bảng (thị xã Từ Sơn); Văn Môn, Thụy Hoà (Yên Phong); Bình Dương, Quỳnh Phú (Gia Bình); Phú Hoà (Lương Tài)... Các vùng quy hoạch cần được nhà nước hỗ trợ đầu tư về cơ sở hạ tầng như: đường điện, giao thông, thuỷ lợi để tạo điều kiện cho nuôi thâm canh. Các chính sách hỗ trợ con giống cá rô phi cho các hộ sản xuất thuỷ sản cần có kế hoạch sớm (trước tháng 3) để các hộ chủ động về con giống thả nuôi nhằm nâng cao giá trị kinh tế khi thu hoạch. Ngoài ra, đối các vùng quy hoạch nuôi tập trung cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí thức ăn, để khuyến khích đầu tư phát triển mở rộng sản xuất. Cá giống cung cấp cho người dân cần tập trung thông qua các đơn vị chuyên môn, cơ sở sản xuất đã được đăng ký và công bố tiêu chuẩn chất lượng nhằm chủ động quản lý chất lượng, số lượng con giống và thời vụ thả nuôi; đồng thời tuyên truyền để các hộ gia đình đẩy mạnh việc giữ giống cá rô phi qua đông để có cá giống lớn phục vụ sản xuất (cuối tháng 2 đầu tháng 3), rút ngắn thời gian nuôi, tăng vụ/năm.


Đối với Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Thuỷ sản tỉnh cần tích cực tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện các công thức thả nuôi luân canh, thâm canh, nuôi đơn, nuôi ghép, nuôi cá sạch (GAqP); áp dụng các biện pháp chăm sóc, phòng trị bệnh, sử dụng các loại thức ăn công nghiệp kết hợp với một số loại thức ăn có sẵn như: ngô, cám, bã bia để giảm giá thành đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm, tiến tới tạo nguồn sản phẩm có chất lượng tốt phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.


Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm cá rô phi chủ yếu là do các tư thương đứng ra thu gom nên giá cá thường có biến động lớn (giá thường giảm 2.000-3.000đ/kg khi vào chính vụ) vì vậy cần khuyến khích các hộ nuôi sớm, nuôi ghép, nuôi trái vụ, thu hoạch luân phiên để không bị ép giá. Ngoài ra, cần xây dựng một số chợ đầu mối tại các vùng nuôi tập trung, có sản lượng thuỷ sản lớn như: Gia Bình, Quế Võ, thị xã Từ Sơn để thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản nói chung và cá rô phi nói riêng; đồng thời cần phối hợp với các cơ sở chế biến thuỷ sản để xây dựng phát triển vùng nuôi cá rô phi hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm cá rô phi cho người dân.


Mở rộng và phát triển nuôi cá rô phi hàng hoá theo hướng thâm canh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với chủ trương và chính sách hỗ trợ của nhà nước, sự tham gia tích cực của các cán bộ kỹ thuật và nông dân trong thời gian tới phong trào nuôi cá rô phi trên địa bàn tỉnh sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần tích cực nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế trong sản xuất thuỷ sản của tỉnh.

Báo Bắc Ninh
(2009-09-03)

 

Bắc Ninh: Tập trung mở rộng tối đa diện tích cây vụ đông 2009- 2010

Email In PDF.

Bắc Ninh: Tập trung mở rộng tối đa diện tích cây vụ đông 2009- 2010

Ngày 1- 9, Sở NN và PTNT tổ chức tổng kết vụ đông 2008-2009, triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông 2009- 2010.

Vụ đông 2008- 2009, toàn tỉnh trồng 9.424 ha, đạt 85,7% kế hoạch, giảm 1.142 ha so cùng kỳ. So sánh hiệu quả kinh tế cho thấy: các loại rau có hiệu quả cao hơn các cây màu khác như: ngô, khoai lang và đậu tương. Điển hình là cà rốt, sau khi trừ chi phí cho thu nhập khoảng 123,9 triệu đồng/ha, cà chua 84,7 triệu đồng/ha, khoai tây 66,5 triệu đồng/ha, cải bắp 64,1 triệu đồng /ha. Tuy nhiên do đợt mưa đầu tháng 11- 2008 nên nhiều diện tích cây màu ngập úng, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng của toàn vụ.


Để nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiệt hại cho nông dân trong vụ đông 2008- 2009, chủ trương của tỉnh trong sản xuất vụ đông 2009- 2010 là phát huy lợi thế về điều kiện thời tiết và chính sách hỗ trợ để mở rộng tối đa diện tích cây vụ đông. Toàn tỉnh phấn đầu gieo trồng 11500 ha cây màu các loại, tăng hơn 2000 ha so với vụ đông 2008- 2009. Trong đó, tập trung mở rộng diện tích cây khoai tây, cà rốt, đậu tương và rau các loại, nhằm đáp ứng yêu cầu tại chỗ và tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ công nghiệp chế.


UBND tỉnh có quyết định dành 8,9 tỷ đồng hỗ trợ giá giống cho khoai tây, cà rốt và đậu tương. Ngoài ra, các huyện cũng có chính sách bổ sung để khuyến khích nông dân mở rộng diện tích…


Các giải pháp trong tâm là: tăng cường chỉ đạo quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung và đẩy mạnh thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh và tiêu thụ sản phẩm. Ưu tiên, chỉ đạo phát triển rau an toàn và hoa cây cảnh, những địa phương có kinh nghiệm trồng đậu tương gieo vãi có biện pháp khuyến khích các hộ có điều kiện mượn ruộng của các hộ khác để mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế.


Riêng với sản xuất rau an toàn, ngoài việc chỉ đạo thành vùng cần chú ý trồng rải vụ, áp dụng theo đúng quy trình kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các đơn vị phục vụ sản xuất chuẩn bị đầy đủ giống, vật tư phân bón... cung ứng cho nông để sau khi thu hoạch lúa mùa sớm có thể triển khai trồng cây vụ đông ngay bảo đảm kịp thời vụ.

Báo Bắc Ninh
(2009-09-03)


 

Công ty cổ phần Cao su Hà Giang: Nỗ lực để trồng mới trên 230 ha cao su

Email In PDF.

Công ty cổ phần Cao su Hà Giang: Nỗ lực để trồng mới trên 230 ha cao su

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai trồng cây cao su như tình hình thời tiết không thuận lợi, tiến độ giải phóng đất ở các địa phương chậm… Nhưng, với sự nỗ lực của Công ty cổ phần Cao su Hà Giang (CTCPCSHG), cùng với tỉnh và các địa phương từng bước tháo gỡ những khó khăn để triển khai trồng cao su theo kế hoạch năm 2009, CTCPCSHG đã tích cực phối hợp với các địa phương vận động, tuyên truyền cho người dân hưởng ứng, giao đất cho công ty, đồng thời tuyển dụng nhân lực, đưa máy móc vào các địa bàn khai hoang, đào hố trồng cây cao su.

Qua đó, đã khai hoang được 233,29ha, trong đó, khai hoang ở xã Vô Điếm, Kim Ngọc (Bắc Quang) đạt 70ha; khai hoang tại xã Trung Thành (Vị Xuyên) đạt 80ha; tại xã Vĩ Thượng (Quang Bình) triển khai đạt diện tích nhiều nhất với 83,29ha. Với sự chuẩn bị kỹ càng về cây giống, CTCPCSHG đã nhanh chóng triển khai các công việc như hạ đường đồng mức, đào hố, bón phân cho các diện tích đã khai hoang.



Có thể nói, sau cuộc họp giữa UBND tỉnh với Hội đồng quản trị CTCPCSHG ngày 1.7, nhằm tháo gỡ một số khó khăn trong việc triển khai chương trình trồng cao su, đã tạo ra sự thống nhất về chủ trương, hành động giữa CTCPCSHG với tỉnh và các địa phương trong việc tìm các biện pháp, đẩy mạnh việc triển khai chương trình trồng cây cao su trong thời gian tới. Trên tinh thần đó, tính đến ngày 31.7, CTCPCSHG đã trồng được 95ha cao su, trong đó có 50ha tại xã Vô Điếm và 45ha tại xã Vĩ Thượng.



Để thể hiện quyết tâm của tỉnh và CTCPCSHG, ngày 8.8 vừa qua, tại xã Vĩ Thượng, UBND tỉnh và CTCPCSHG đã tổ chức lễ ra quân trồng mới cao su năm 2009. Qua đó, nhằm tạo ra khí thế, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân với chương trình trồng cây cao su. Buổi Lễ phát động ra quân nhận được sự quan tâm sâu sắc của các đồng chí lãnh đạo tỉnh.



Sau lễ phát động, tính đến ngày 20.8, CTCPCSHG đã triển khai trồng được gần 40ha cao su tại xã Vĩ Thượng, nâng tổng số diện tích trồng cao su toàn tỉnh hiện nay lên trên 130ha. Đến vườn ươm giống của CTCPCSHG tại xã Vô Điếm, hàng vạn cây giống đang phát triển rất đều và tốt. Các công nhân ở đây đang thực hiện việc bứng bầu để chuẩn bị cho công tác vận chuyển cây giống sang các địa bàn xã Vĩ Thượng và xã Trung Thành triển khai trồng. Ông Nguyễn Xuân Phú, Tổng Giám đốc CTCPCSHG cho biết, phấn đấu đến hết tháng 8 và sang đầu tháng 9, công ty sẽ triển khai trồng hết số diện tích đất đã khai hoang, đào hố ở các địa bàn, nâng tổng số diện tích cao su được trồng mới lên 233,29ha.



Tuy nhiên, có thể nói, việc vận chuyển cây giống đến các địa bàn để trồng cũng hết sức khó khăn, đặc biệt là việc vận chuyển từ Vô Điếm (Bắc Quang) đến xã Trung Thành (Vị Xuyên). Do đường xá đi lại khó khăn, phải vận chuyển nhiều chặng để đến được nơi trồng, do đó giá thành vận chuyển sẽ đội lên rất nhiều. Mặc dù vậy, công ty vẫn quyết tâm để có thể triển khai đảm bảo trồng mới được 80ha ở xã Trung Thành. Qua đó, góp phần giải quyết được lượng cây giống tại vườn ươm Vô Điếm đang lớn khá nhanh. Theo cán bộ kỹ thuật của công ty cho biết, với 30,5 vạn gốc đã được ươm, trong đó tỷ lệ sống đạt trên 85%. Nếu triển khai trồng được 230ha thì sẽ giải quyết được 11,5 vạn cây giống, số còn lại khoảng 16 - 17 vạn cây sẽ tiếp tục được hãm lại để chờ diện tích đất mới khai hoang và hy vọng sẽ triển khai trồng đúng vụ xuân, khoảng tháng 2.2010. Để thực hiện những nỗ lực trên, đảm bảo tiến độ và kế hoạch, trong thời gian qua, CTCPCSHG đã tiến hành làm việc với các huyện, xã để thống nhất thời gian giao đất. Qua đó, phấn đấu đến ngày 30.8, các địa bàn ở Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên sẽ bàn giao cho CTCPCSHG là 990,9ha.



Với những nỗ lực của tỉnh và CTCPCSHG, hy vọng các địa phương và mỗi người dân sẽ tích cực hưởng ứng chương trình trồng cây cao su,hoàn thành giao đất theo cam kết để có thể khai hoang và triển khai đưa cây giống vào trồng trong tháng 2.2010. Qua đó, thực hiện tốt chương trình, mục tiêu trồng cao su mà tỉnh đề ra.

Báo Hà Giang
(2009-09-03)

 

Nông Cống: Xây dựng 600 ha vùng lúa cao sản

Email In PDF.

Nông Cống: Xây dựng 600 ha vùng lúa cao sản

Thực hiện Đề án xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, vụ mùa năm 2009 huyện Nông Cống đã quy hoạch và gieo cấy 600 ha lúa cao sản ở 5 xã: Tượng Văn, Trường Minh, Tế Thắng, Vạn Hòa và Tế Nông.

Từ đầu vụ mùa đến nay, huyện đã mở 38 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho lúa, thu hút 1.900 lượt người tham gia. Theo kế hoạch, năm 2010 Nông Cống sẽ xây dựng vùng lúa cao sản đồng loạt ở 23 xã còn lại nằm trong vùng quy hoạch của huyện, phấn đấu đến năm 2013 toàn huyện sẽ xây dựng xong vùng lúa thâm canh năng suất, chất lượng, hiệu quả cao với  diện tích 4.500 ha trở lên, đạt gần 50% tổng diện tích  gieo cấy của toàn huyện.


Xây dựng vùng lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả cao ở huyện Nông Cống nhằm từng bước xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, góp phần thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Báo Thanh Hóa
(2009-09-03)

 

Trang trại nuôi gà sao thành công của anh Ba Liêm

Email In PDF.

Đến xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, chúng tôi được nghe người dân nói về trang trại nuôi gà Sao thành công của anh Huỳnh Thanh liêm (Ba Liêm) ở ấp Tân Bình.

Đọc thêm...
 

Phân bón tiết kiệm đạm SiUrea

Email In PDF.

Si-Urea là loại phân gồm 2 thành phần chính là Urea và Silic. Theo Viện Nghiên cứu lúa quốc tế IRRI: trong điều kiện bình thường cây trồng chỉ sử dụng được 40-45% lượng đạm mà chúng ta bón vào, 55-60% lượng đạm còn lại bị thất thoát do rửa trôi, bay hơi và phản nitrat hóa. Đã có nhiều giải pháp để hạn chế sự thất thoát này như là bọc hạt phân urea bằng lưu huỳnh, bọc hạt phân bằng màng PE có lỗ thủng, bọc bằng dầu khoáng… nhưng chưa có giải pháp nào được phổ cập trong sản xuất.

Những năm 1990, các nhà khoa học Mỹ đã không đi theo lối mòn là tìm kiếm các giải pháp làm chậm quá trình tan của phân đạm một cách cơ học mà đột phá vào bản chất theo hướng dùng hoạt chất ức chế men Ureasa (men phân huỷ đạm). Qua thí nghiệm và thực tế ngoài đồng ruộng nhận thấy N (n-Butyl) Thiophosphoric Triamide (nBTPT) có công thức là C4H14N3PS có thể ức chế tốt men Ureasa phân huỷ đạm tốt nhất.


Silic là một yếu tố trung lượng. Trước đây các nhà khoa học không đánh giá cao vai trò của Silic với cây trồng, tuy nhiên quan niệm đó đã thay đổi khi năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản công bố các nghiên cứu của họ về vai trò của Silic trong việc nâng cao tính chống chịu cho cây như là khả năng kháng nấm, kháng bệnh, chống đổ ngã, chống chịu với hạn hán, với mặn, tăng hiệu suất quang hợp, tăng hiệu quả sử dụng phân bón…


Nhờ sự kết hợp của 2 đặc tính trên nên Si-Urea là phân bón tiết kiệm đạm, việc sử dụng chúng cũng dễ dàng như các loại phân khoáng khác. Cần đọc thêm thông tin hướng dẫn sử dụng ngoài bao phân.


Si-Urea là sản phẩm của công ty CP Phân bón Việt Mỹ (AVF). Để biết thêm chi tiết có thể gọi số: 08.38686369-0650.3737363.

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 

Nói thêm về giống lúa BC-15

Email In PDF.

Nói thêm về giống lúa BC-15

Giống lúa BC-15 sản xuất vụ thu 2009 trên địa bàn HTXNN2 Cát Hanh (Phù Cát - Bình Định) chiếm tỉ lệ hơn 90% trên diện tích 50ha chuyển đổi từ sản xuất 3vụ/năm sang sản xuất 2vụ/năm.

Và hiện nay, khi giống lúa BC-15 đang vào độ sắp thu hoạch, cùng với bà con nông dân chúng tôi hân hoan nói rằng “đã thắng lợi lớn trên diện tích sản xuất 2vụ/năm”, bởi năng suất bình quân ước đạt 66tạ/ha, cá biệt đạt 70tạ/ha. Tuy nhiên, với giống lúa BC-15 và với chính địa phương chúng tôi, con đường đi đến kết quả nói trên không hề bằng phẳng.


Còn nhớ, vụ ĐX 2007-2008, lần đầu tiên Ban chủ nhiệm HTXNN2 Cát Hanh đã cùng Cty CP Giống cây trồng Thái Bình đưa vào sản xuất giống lúa BC-15 trên diện tích 68,4ha với 307 hộ gia đình tham gia, trong đó: diện tích gieo sạ giống BC-15 nguyên chủng là 45,4ha với 168 hộ tham gia và có ký kết hợp đồng sản xuất; diện tích gieo sạ giống BC-15 cấp1 là 23ha với 139 hộ gia đình tự nguyện sản xuất. Và kết quả sản xuất ở vụ này nhìn chung đã thất bại. Chính từ sự thất bại này đã gây xôn xao, thậm chí chấn động dư luận.


Về mặt pháp lý, Cty CP Giống cây trồng Thái Bình chỉ chấp nhận hỗ trợ (đúng hơn là bồi thường) 400 ngàn đồng/500m2 cho những hộ gia đình có ký kết hợp đồng sản xuất, riêng ngành chức năng địa phương thì tỏ ra lúng túng, và có lúc giống lúa này bị cấm đưa vào sản xuất. Về mặt kỹ thuật, đã tạo ra 2 luồng dư luận trái ngược nhau, luồng thứ nhất cho rằng bản thân giống lúa BC-15 đã bị nhiễm bệnh đạo ôn mức độ nặng và không phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng địa phương; luồng thứ hai lại nói do không tuân thủ lịch mùa vụ, mật độ gieo sạ quá dày so với khuyến cáo (3-4kg/500m2), bón phân không cân đối và bệnh đạo ôn đã có sẵn trên cánh đồng.


Trong khi “lời giải” cho những nghi vấn trên vẫn còn đang bỏ ngỏ thì vụ thu tiếp đó, dù không được khuyến cáo nhưng vẫn có đến 50 hộ gia đình “âm thầm” gieo sạ giống lúa BC-15 trên diện tích 6ha. Riêng chúng tôi thì lặng lẽ theo dõi, quan sát suốt quá trình sinh trưởng phát triển cây lúa trên diện tích này. Nói là lặng lẽ nhưng thật ra chúng tôi có mặt gần như thường xuyên và luôn sẵn sàng hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho bà con ở từng thời điểm nếu có “sự cố”. Và vụ thu ấy, trên diện tích ấy hầu như rất ít sâu bệnh, cá biệt chỉ có 2 thửa bị bệnh đạo ôn mức độ nhẹ, và năng suất bình quân ước đạt 62tạ/ha.


Anh Trần Văn Quế, một trong số 50 hộ “xé rào”, cho biết: “Vụ ĐX 2007-2008 là vụ đầu tiên gieo sạ giống lúa BC-15, nhưng đa số bà con vẫn theo thói quen cũ, đó là không triệt để tuân thủ lịch mùa vụ và chủ quan xem giống lúa BC-15 cũng như các giống lúa khác trong quá trình canh tác, do đó chúng tôi đã phải đón nhận hậu quả không vui. Và sở dĩ có được kết quả như trên là nhờ rút kinh nghiệm từ vụ ĐX, trong đó cơ bản nhất vẫn là tuân thủ lịch mùa vụ, mật độ gieo sạ, điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp và thường xuyên thăm đồng”.


Vụ ĐX 2008-2009 liền kề, diện tích gieo sạ giống lúa BC-15 tiếp tục tăng lên, trong đó có 1,5ha là giống nguyên chủng sản xuất theo diện “hợp đồng tự nguyện” giữa 11 hộ gia đình với Ban chủ nhiệm HTX (nguồn giống lấy từ chi nhánh Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình tại Quảng Nam). Có thể nói rằng, vụ ĐX 2008-2009 là “liều thuốc thử cuối cùng” để đánh giá và khẳng định đúng mực về giống lúa BC-15 trên địa phương này, bởi vụ ĐX có sự khác biệt so với vụ thu ở chỗ mưa nhiều, độ ẩm cao, cây lúa thường gặp lạnh ở giai đoạn sau Tết Nguyên đán nên rất dễ phát sinh bệnh đạo ôn. Do đó, ngoài việc áp dụng kinh nghiệm ở vụ thu 2008, vụ ĐX này dù muốn dù không bà con cũng đã phải phun thuốc ngừa bệnh đạo ôn (2 lần/vụ). Kết quả năng suất bình quân vụ ĐX này đạt 64tạ/ha.


Vậy nguyên nhân nào khiến bà con nông dân ở đây từ chỗ ngờ vực đến kiên trì rồi duy trì và phát triển giống lúa BC-15? Theo chúng tôi, có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, hầu hết các giống lúa đang có trên địa bàn phần bị thoái hoá, phần vì năng suất cũng chỉ “thường thường bậc trung”, hoặc năng suất khá cao nhưng không được ưa chuộng trên thị trường, trong khi chưa có giống lúa mới nào khả dĩ khắc phục được các nhược điểm nói trên; thứ hai, giống lúa BC-15 xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy, bước đầu tuy bị ngờ vực nhiễm nặng bệnh đạo ôn gây mất năng suất, nhưng ấn tượng của nó là ngon cơm và được giá trên thị trường, lại có thời gian sinh trưởng phù hợp với sản xuất 2vụ/năm – đây chính là tiền đề của nguyên nhân thứ ba, đó là sự kiên trì, cần cù và từng bước rút kinh nghiệm trong quá trình canh tác của bà con nông dân.


Như vậy, qua 3 vụ liên tiếp, đặc biệt là kết quả từ “liều thuốc thử” vụ ĐX 2008-2009 đã tạo ra sự “bùng nổ” giống lúa BC-15 ở vụ thu 2008 như đã đề cập ở phần đầu. Và chúng tôi cũng hoàn toàn thống nhất ý kiến nhận xét của Th.S Trần Xuân Định về giống lúa BC-15 qua bài “Vì sao giống lúa BC-15 lại “kẻ yêu người ghét”” đăng trên Báo NNVN số 121, ngày 18/6/2009, đại ý: Giống lúa BC-15 không dễ tính, nó sẽ đạt năng suất trên 70tạ/ha với điều kiện: người sản xuất phải tuân thủ tốt qui trình, chí thú với ruộng vườn, phòng trị bệnh kịp thời, điều trị ngay khi nó vừa “hắt hơi sổ mũi”. Khuyến cáo không nên sản xuất giống lúa này trong các trường hợp: xem làm ruộng là nghề phụ, hộ gia đình neo đơn, già cả, không đủ lực đầu tư; đất lầy thụt, chua trũng, mỏng màu…

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 

Việt Lai 50: Bước đột phá lúa lai Việt

Email In PDF.

Trong những năm gần đây diện tích gieo cấy lúa lai của Việt Nam ngày càng tăng. Theo báo cáo sơ kết của Cục Trồng trọt, diện tích lúa lai thương phẩm vụ đông xuân 2009 đạt 378.509 ha, chiếm 32,6% so với tổng diện tích lúa của miền Bắc. Vùng đồng bằng sồng Hồng đạt 142.246ha, chiếm 25% diện tích, một số tỉnh có diện tích tăng mạnh là Hải Dương tăng 4.564ha, Bắc Ninh tăng 6.395ha, Nam Định tăng 6.390ha…

Hàng năm nhu cầu cần 15.000 – 18.000 tấn giống lúa lai để phục vụ sản xuất đại trà, trong đó Việt Nam đã chủ động 30%, còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc.


Có được kết quả trên do có chủ trương đúng đắn của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương, nhất là có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai. Đối với lúa lai 3 dòng, tổng kết cho thấy sản xuất hạt lai F1 năng suất thường thấp, chất lượng không cao vì vậy giá thành không hạ là mấy so với lúa nhập khẩu, vì vậy các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai 2 dòng.


Đến nay chúng ta đã rất thành công trong lĩnh vực này, nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng đã được công nhận như TH3-3, TH3-4, VL20, VL24… được đưa vào cơ cấu giống của nhiều tỉnh, nông dân ưa chuộng vì chất lượng gạo khá lại ngắn ngày. Nổi bật giống TH3-3 đã sang nhượng bản quyền với giá kỷ lục 10 tỷ đồng, tạo tiếng vang lớn, là động lực để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai mới. Các tổ hợp lúa lai 2 dòng của Việt Nam đa phần đáp ứng được các mục tiêu: dễ sản xuất hạt lai F1 với năng suất trung bình 2,5 – 3 tấn/ha, chi phí thấp hơn hẳn so với sản xuất hạt lai F1 lúa lai ba dòng. Lúa lai thương phẩm có khả năng chống chịu sâu, bệnh và điều kiện bất thuận khá, năng suất và chất lượng khá cao, đặc biệt hầu hết đều là giống ngắn ngày.


Việt Lai là một thương hiệu lúa lai hai dòng của Viện Nghiên cứu Lúa - Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Việt Lai 20 do PGS - TS Nguyễn Văn Hoan - Giám đốc Viện Nghiên cứu Lúa chọn tạo, là giống lúa lai hai dòng được Bộ Nông nghiệp & PTNT đưa vào danh sách giống lúa được phép sản xuất kinh doanh, cũng là giống lúa lai đầu tiên sang nhượng bản quyền sản xuất. Nối tiếp thành quả đó, Viện tiếp tục chọn tạo thành công giống Việt Lai 24, đây là giống lúa lai có khả năng chống bạc lá rất tốt, ngắn ngày (thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 92 - 97 ngày) được đặc cách công nhận giống để đưa vào phục vụ sản xuất trong vụ xuân muộn và mùa sớm, nhất là chân đất trồng cây vụ đông sớm. Nông dân đánh giá cao hai giống trên bởi nhiều ưu điểm: ngắn ngày, chống bạc lá, năng suất, chất lượng khá, tuy nhiên cả hai giống đều thuộc loại hình bông không to, số hạt trên bông không nhiều, tiềm năng năng suất hạn chế.


Khắc phục nhược điểm, PGS - TS Nguyễn Văn Hoan cùng cộng sự đã nghiên cứu thành công giống lúa lai hai dòng thế hệ mới: Việt lai 50 (VL50). Theo báo cáo tổng kết của Viện Nghiên cứu Lúa - ĐH Nông nghiệp HN, kết quả khảo nghiệm giống VL50 năng suất bình quân 70 tạ/ha, cao nhất là ở tỉnh trung du miền núi như Phú Thọ, Bắc Giang, năng suất đạt 75 – 80 tạ/ha, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân phía bắc chỉ 115 – 120 ngày, đẻ nhánh trung bình, thuộc loại hình bông to, nhiều hạt, trung bình 250 – 300hạt/bông.


Theo PGS - TS Nguyễn Văn Hoan, VL50 là giống lúa có kiểu xếp hạt đặc biệt, hạt nọ xếp chồng hạt kia nên bông tuy không dài hơn nhiều giống lúa lai khác nhưng số hạt trên bông lại có thể cao gấp 1,5 lần chính vì vậy tuy thời gian sinh trưởng ngắn nhưng tiềm năng năng suất của giống VL50 rất cao. Trong thời gian tới ngoài việc nâng cao độ thuần của giống Viện sẽ bố trí thí nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình thâm canh giống VL50 ở từng vùng sinh thái như áp dụng phương pháp cấy hàng rộng hàng hẹp, cấy mạ non, cấy mật độ 40 khóm/m2, 2 – 3 dảnh cơ bản/khóm (do VL 50 khả năng đẻ nhánh trung bình) đưa số bông/m2 đạt khoảng 300 bông thì mới khai thác tối đa tiềm năng năng suất giống.

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 
Trang 199 trong tổng số 335

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video