Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Di thực thành công rau su hào về ĐBSCL

Email In PDF.

Di thực thành công rau su hào về ĐBSCL

Su hào ưa nhiệt độ thấp nên được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và là cây rau chủ lực trong vụ đông ở miền Bắc. Ở các tỉnh phía Nam, rau su hào chỉ được trồng ở Đà Lạt, nơi có khí hậu quanh năm mát mẻ.

Trước đây, ở ĐBSCL không ai trồng  su hào,mà chủ yếu được vận chuyển từ Đà Lạt - Lâm Đồng về bán với giá 10.000 đ/kg. Tuy nhiên, rau phải qua vận chuyển và bốc dỡ nhiều ngày nên không còn được tươi và ngon như lúc mới thu hoạch. Mấy năm gần đây, một số nông dân đã mua hạt rau su hào từ Đà Lạt về trồng thử ở ĐBSCL, bước đầu thấy chúng sinh trưởng khá tốt, cho năng suất tương đối cao đã góp phần giải quyết vấn đề thiếu rau xanh trong những tháng sau mùa lũ.


Anh Nguyễn Trí Tâm ở quận ÔMôn, TP. Cần Thơ mấy năm rồi đã trồng rau su hào rất thành công, kinh nghiệm của anh như sau:


Mùa trồng su hào chỉ từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau vì thời gian này thời tiết mát mẻ thích hợp cho rau phát triển, những tháng khác rau phát triển kém trồng sẽ không đem lại lợi nhuận. Hạt giống được gieo trên đất tơi xốp có nhiều mùn. Khi cây con được 20-25 ngày tuổi thì có thể nhổ đem cấy.


Trước khi nhổ 4-5 ngày không tưới cho cây, chỉ tưới trước khi nhổ 1 ngày để rau nhanh ra rễ mới. Rau được trồng trên đất tơi xốp có bón phân chuồng hoai mục (10-15 tấn/ha). Trồng trên luống cao 30 cm, dài 10-15 m. Khoảng cách hàng là 40 cm, cây cách cây là 20-25 cm. Sau khi trồng dùng thùng có gắn bông sen tưới ngay cho rau vào sáng sớm và chiều mát. Khi rau đã phát triển (10-15 ngày) thì bơm nước ngập 3/4 rãnh luống cho nước thấm lên mặt luống là vừa.


Bón phân: Thúc lần đầu sau khi cây đã bén rễ bằng phân DAP (100 kg/ha) bằng cách rải phân lên mặt luống và tưới. Lượng phân đạm để thúc suốt quá trình sinh trưởng từ 150 - 200 kg urê cho 1 ha. Chú ý, su hào càng lớn lượng phân thúc càng tăng. Thúc lần cuối trước khi thu hoạch một tuần để củ nây đều, mỏng vỏ.


Trong suốt quá trình trồng anh không thấy có sâu bệnh xuất hiện trên rau nên không phải phun thuốc. Có lẽ đây là loại rau mới và trồng với diện tích nhỏ nên chưa thấy xuất hiện sâu bệnh. Sau khi trồng được 60-65 ngày là thu hoạch được. Năng suất đạt 2,5-3 tấn/công (1.000 m2).


Thiết nghĩ những nơi có đất thịt nhẹ, đất pha cát ở các bãi cồn ven sông Tiền, sông Hậu có thể trồng tốt loại rau xanh này, bà con nông dân tham khảo và có thể áp dụng.

Báo Nông nghiệp
(2009-08-26)

 

Phát triển vùng nguyên liệu rau chế biến

Email In PDF.

Phát triển vùng nguyên liệu rau chế biến

Những năm gần đây, diện tích, sản lượng rau chế biến (RCB) tăng mạnh. Tuy nhiên để phát triển vùng nguyên liệu RCB ổn định, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường cần khắc phục những bất cập trong sản xuất và tiêu thụ loại cây trồng này.

Bắc Giang có nhiều điều kiện để phát triển RCB bởi tiềm năng về đất đai dồi dào, cơ cấu giống cây trồng đa dạng, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tương đối thích hợp cho cây trồng này. Một yếu tố khác là trên địa bàn tỉnh có 9 DN chế biến nông sản xuất khẩu (chủ yếu là mặt hàng RCB) với khả năng tiêu thụ sản lượng hơn 20 nghìn tấn RCB/năm nên đầu ra của sản phẩm này thuận lợi. Thực hiện quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, thời gian qua, các DN có nhiều nỗ lực trong liên kết với nông dân trồng RCB tạo vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, các địa phương có cơ chế khuyến khích nông dân sản xuất RCB. Huyện Lạng Giang hỗ trợ nông dân trồng RCB 108 nghìn đồng/sào, đồng thời hỗ trợ kinh phí chỉ đạo sản xuất tại các thôn, xóm. Các huyện Tân Yên, Lục Nam cũng có chính sách hỗ trợ nông dân mở rộng diện tích cây trồng này. Nhờ đó, diện tích,
sản lượng rau chế biến những năm gần đây tăng mạnh. Vụ xuân vừa qua, toàn tỉnh trồng hơn 445 ha rau chế biến các loại, tăng 222 ha so với vụ xuân năm trước, sản lượng ước đạt 11.125 tấn, tăng mạnh so cùng kỳ. Trong đó, diện tích dưa chuột bao tử chiếm phần lớn, còn lại là các sản phẩm khác như: cà chua bi, hành lá, ngô, ớt… Trồng RCB mang lại thu nhập cao hơn nhiều so với một số loại cây trồng khác trên cùng đơn vị diện tích. Chị Nguyễn Thị Quyên, thôn Húng, xã Liên Sơn (Tân Yên) nói: "Gia đình tôi trồng dưa chuột bao tử đã 5 năm. Mấy năm gần đây, nhờ nắm chắc kỹ thuật, thời tiết thuận lợi nên năng suất đạt cao, mỗi sào dưa thu nhập 4-5 triệu đồng, gấp 3-4 lần so với trồng lúa".


Hiệu quả của RCB được khẳng định đã khuyến khích người dân từng bước mở rộng diện tích. Tuy nhiên, trong sản xuất và tiêu thụ RCB còn không ít vấn đề đáng lưu tâm. Đó là tình trạng DN ép cấp, ép giá. Ông Đàm Hồng Phúc, Chủ tịch UBND xã An Lập (Sơn Động) phản ánh: "Người dân chúng tôi đã trồng dưa bao tử mấy năm. Cùng một sản phẩm với kích cỡ, chất lượng như nhau, năm trước, DN thu mua với giá loại I nhưng năm nay nghe nói do suy giảm kinh tế thế giới, đơn hàng bị cắt giảm nên chỉ thu mua với giá loại II làm người dân thiệt…". Tình trạng người sản xuất không tuân thủ hợp đồng ký kết với nhà máy chế biến cũng không hiếm. Nhiều DN ứng trước giống, phân bón, hỗ trợ kỹ thuật cho người sản xuất nhưng lại không thu mua được sản phẩm do giá thị trường cao hơn giá DN thu mua nên nông dân bán ra ngoài. Tranh mua, tranh bán cũng thường xảy ra, nhất là khi nguồn cung khan hiếm, nhu cầu của DN chế biến mặt hàng này tăng cao. Một số sản phẩm không bảo đảm chất lượng, DN không mua hoặc thu mua với giá thấp dẫn tới tranh chấp hợp đồng. Nguyên nhân là do các hộ, nhóm hộ sản xuất, HTX còn thiếu kinh nghiệm, thông tin thị trường nên có lúc bị thua thiệt trong các điều khoản ký hợp đồng. Đơn cử như vụ xuân vừa qua, nhà máy chỉ ký hợp đồng diện tích trồng không ký giá thu mua ngay từ đầu vụ. Một số DN chế biến năng lực tài chính còn yếu thanh toán tiền chậm gây mất lòng tin cho nông dân. Công tác hỗ trợ pháp lý cho hộ, nhóm hộ và HTX chưa được quan tâm đúng mức, một số nơi chưa có các tổ chức kinh tế, tổ hợp tác làm dịch vụ thu gom, ký kết hợp đồng tiêu thụ với DN.


Mới đây, UBND tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ phát triển vùng RCB giai đoạn 2009-2012 trên địa bàn. Theo đó, tỉnh sẽ hỗ trợ 3 triệu đồng/vụ/ha cho các hộ sản xuất RCB. Ngoài ra, hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo tập huấn quy trình kỹ thuật, hỗ trợ một phần kinh phí xây dựng cải tạo cơ sở hạ tầng vùng sản xuất tập trung… Đây là biện pháp kích cầu quan trọng nhằm mở rộng diện tích RCB. Tuy nhiên, để phát triển vùng nguyên liệu này, các cấp chính quyền, ngành chức năng cần sớm khắc phục những hạn chế nêu trên bằng việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về hợp đồng kinh tế. Ngành chức năng cần sớm quy hoạch vùng RCB, bổ sung các huyện có tiềm năng để mở rộng diện tích cây trồng này, đồng thời phổ biến cho nông dân kỹ thuật đầu tư thâm canh cây trồng mới, phương thức sản xuất mới, làm tốt vai trò trong liên kết "4 nhà", giám sát việc thực hiện các hợp đồng liên kết sản xuất, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh.

Báo Bắc Giang
(2009-08-26)

 

Cuộc "Cách mạng xanh" ở Công Liêm

Email In PDF.

Cuộc

Mặc dù có nhiều tiềm năng về đất đai song những năm qua người dân xã Công Liêm (Nông Cống - Thanh Hoá) vẫn không thể thoát nghèo. Nguyên nhân là do bà con áp dụng lối sản xuất cũ, theo kinh nghiệm là chính.


Để thay đổi cục diện, từng bước xây dựng quê hương giàu đẹp, cán bộ và nhân dân trong xã đã thực hiện “cuộc cách mạng xanh” trên đồng đất bằng việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của địa phương và nhu cầu thị trường.


Kết quả là diện mạo làng quê ngày càng thay da đổi thịt, những cánh đồng như được hồi sinh bởi các mô hình sản xuất mới.


Đầu tư đúng hướng


Công Liêm có 1.400ha đất tự nhiên, tổng diện tích đất gieo trồng cả năm lên đến 1.795ha. Thế nhưng một thời gian dài đất “ngủ im” trong khi cuộc sống của người dân vẫn nghèo khó. Có thời điểm, một nửa diện tích đất canh tác của xã bị bỏ hoang hoặc nếu có trồng trọt cũng chỉ là những loại cây cho giá trị kinh tế thấp.


Không cam chịu đói nghèo, lãnh đạo xã đã xây dựng kế hoạch “đánh thức” tiềm năng đất đai. Những buổi tập huấn, những chuyến tham quan các mô hình sản xuất hiệu quả được tổ chức. Để sử dụng hiệu quả diện tích đất canh tác, đưa các giống cây có giá trị kinh tế cao vào đồng đất địa phương, lãnh đạo xã xác định: đầu tiên là ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi và giao thông. Năm 2008, hệ thống đường liên thôn được tu bổ tại các làng Tuy Yên, Trung Sơn, Cự Phú với tổng nguồn vốn 200 triệu đồng, chủ yếu do nhân dân đóng góp.


Nhằm phục vụ cho công tác sản xuất nông nghiệp năm 2009, xã huy động nhân dân ra quân làm thuỷ lợi với khối lượng đào đắp lên tới 36.000m3, tiến hành tu bổ xử lý nhiều điểm sạt lở của hồ đập, lắp đặt cống tiêu, thoát nước với nguồn vốn đầu tư 130 triệu đồng. Bằng nguồn vốn hỗ trợ của Công ty Thuỷ nông Sông Chu, xã đã xây dựng 400m kênh bê-tông, nâng cấp 2 hồ đập lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tiết nước. Nhờ đó, việc sản xuất ngày càng thuận lợi, diện tích đất canh tác chủ động được tưới tiêu tăng lên đáng kể. Và khi những điều kiện nền tảng phục vụ sản xuất được khơi thông, người dân đã hăng hái áp dụng những mô hình mới, góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống.


Thành quả trong phát triển kinh tế


Nhờ sát sao trong công tác chỉ đạo, năm 2008, Công Liêm đã có những đột phá trong sản xuất, tổng diện tích gieo cấy lúa đạt 804ha, sản lượng 3.400 tấn. Diện tích ngô đạt 215ha, sản lượng 1.018 tấn; lạc 128ha (174 tấn); mía 113ha (5.580 tấn). Ngoài ra, xã còn trồng 354ha cây công nghiệp ngắn ngày và rau màu các loại. Riêng 6 tháng đầu năm 2009, diện tích lúa tăng lên 403ha, sản lượng 2.252 tấn; diện tích ngô 130ha, lạc 129ha. Tổng sản lượng quy thóc đạt 2.876 tấn; giá trị sản xuất ước đạt 17,3 tỷ đồng.


Trong quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, xã luôn chú trọng việc trang bị cho nhân dân kiến thức khoa học kỹ thuật thông qua các chương trình trình diễn của Trung tâm Khuyến nông, Hội Làm vườn và Trang trại Thanh Hoá; tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để bà con có điều kiện đầu tư vào đồng ruộng. Cũng chính từ sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, chính quyền nên phong trào thi đua lao động sản xuất giỏi ngày càng rầm rộ, thu hút đông đảo người dân tham gia.


Từ phong trào, nhiều mô hình làm ăn mới mang lại hiệu quả kinh tế cao đã xuất hiện. Điển hình như gia đình anh Nguyễn Công Trình, nhờ trồng mía, cây lâm nghiệp, chăn nuôi, mỗi năm có thu nhập hàng trăm triệu đồng. Mô hình này đã được nhân rộng ra toàn xã. Đến nay, xã đã có 14 mô hình kinh tế trang trại và 21 gia trại chăn nuôi tổng hợp, góp phần nâng tổng đàn trâu, bò lên 830 con; đàn lợn 5.800 con; đàn gia cầm 44.500 con, tổng giá trị thu nhập từ chăn nuôi đạt 11,1 tỷ đồng.


Ông Lê Viết Hoan, Chủ tịch UBND xã Công Liêm cho biết: “Mặc dù có diện tích đất tự nhiên khá lớn nhưng do phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên việc sản xuất rất khó khăn. Chính vì vậy, chúng tôi xác định phải “tấn công” vào lĩnh vực thủy lợi và kết cấu hạ tầng để từ đó đẩy lùi đói nghèo, lạc hậu. Khi hệ thống thủy lợi được nâng cấp thì việc sản xuất sẽ thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho nhân dân đưa các giống cây - con mới vào sản xuất phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương. Hiệu quả kinh tế được khẳng định, đã tạo được niềm tin trong nhân dân”.


Song song với phát triển kinh tế nông nghiệp, lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ... cũng phát triển mạnh. Đồng thời, xã cũng khuyến khích bà con đi lao động trên địa bàn khác, hiện xã luôn có 1.000 – 1.300 lao động đi làm kinh tế ngoài tỉnh, mang lại thu nhập đáng kể cho địa phương (12 – 13 tỷ đồng/năm). Tổng giá trị thu nhập từ công nghiệp – dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2009 đạt 42 tỷ đồng, thu nhập bình quân 4,3 triệu đồng/người. Kinh tế phát triển, xã đã tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, kênh mương, hồ đập... Đây là minh chứng khẳng định sự cố gắng vươn lên của cán bộ và nhân dân Công Liêm trong công cuộc đổi mới. Để làm được điều đó, ông Hoan cho biết, ngoài việc phát huy sức mạnh nội lực của địa phương còn có sự hỗ trợ tích cực của các cấp, các ngành trong việc đưa các chương trình dự án về địa phương.


Hướng tới tương lai


Phát huy những kết quả đạt được, Đảng bộ và nhân dân Công Liêm sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế – xã hội thông qua việc khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, kết hợp giữa phát triển nông nghiệp với lâm nghiệp, quy hoạch vùng sản xuất các loại cây trồng, tập trung đầu tư xây dựng trang trại vừa và nhỏ. Tăng cường công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, đầu tư thâm canh lúa lai, cơ cấu lại mùa vụ một cách hợp lý. Đồng thời tập trung chỉ đạo nhân dân đưa các giống cây trồng mới vào sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất cây vụ đông đạt 300 – 320ha, phấn đấu đạt 180 – 200ha ngô trên đất hai lúa. Đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để đảm bảo các mục tiêu như đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế lên trên 8%; tổng sản lượng lương thực 5.476 tấn; thu nhập bình quân 7,1 triệu đồng/người/năm; lương thực bình quân 570 kg/người/năm.

Kinh tế nông thôn
(2009-08-26)

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 29 Tháng 7 2010 09:37 )
 

An Giang, Bến Tre không chỉ có lúa - tôm

Email In PDF.

An Giang, Bến Tre không chỉ có lúa - tôm

An Giang, Bến Tre được biết đến là “vựa” lúa - thuỷ sản của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nhờ lúa - tôm, người dân đã từng bước thoát nghèo. Nhưng không chỉ có thế, bà con còn mạnh dạn đưa những mô hình mới vào sản xuất.


Hươu, nai ở Thất Sơn


Được sự hỗ trợ con giống, kỹ thuật của Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang và nguồn vốn vay của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT An Giang nên những năm gần đây, không ít hộ Khmer nghèo ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đã nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên khá - giàu nhờ mô hình nuôi hươu, nai. Anh Thạch Ban ở xã An Hảo (huyện Tịnh Biên) là người tiên phong trong nghề nuôi mới mẻ này. Sau hơn 2 năm thử nghiệm thành công với mô hình của anh Ban, năm 2005, Chi cục Kiểm lâm An Giang đã hỗ trợ 24 con hươu sao và 28 con nai cho 28 hộ nuôi.


Nói về kinh nghiệm nuôi hươu, nai, anh Ban cho biết: “Chuồng phải cất sàn cao, chia làm nhiều ngăn, thường xuyên làm vệ sinh sạch sẽ, giăng mùng ngăn muỗi cẩn thận. Bên cạnh việc cho hươu, nai ăn cỏ và các loại cây hoang dại có nhiều chất dinh dưỡng, người nuôi cần theo dõi quá trình tăng trưởng và phòng ngừa kịp thời các loại dịch bệnh cho hươu, nai. Trung bình, nai cái sau 2 năm tuổi sẽ đẻ lứa đầu tiên, nai đực chỉ hơn nửa năm tuổi sẽ có sừng non (còn gọi là nhung)”.


Nhờ chăm sóc đúng kỹ thuật nên đàn hươuN, nai của 28 hộ phát triển nhanh, nhung đạt chất lượng cao. Bình quân, mỗi cặp nhung nặng từ 1 - 3kg, giá bán lộc nhung và lộc nai 6 - 7 triệu đồng/kg. Anh Ban bộc bạch: “Giai đoạn cho hươu, nai đẻ tốt nhất là từ 2 năm tuổi trở lên. Mỗi năm, nai cái sinh 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Sau vài tháng có thể tách bầy, bán hươu, nai giống”.


Điều kiện khí hậu mát mẻ ở khu vực núi Thất Sơn, đồng cỏ rộng, thảm thực vật đa dạng rất phù hợp với nghề nuôi hươu, nai. Chính vì vậy, năm 2009, tỉnh An Giang tiếp tục hỗ trợ vốn, con giống và những phương tiện cần thiết khác cho 10 hộ nghèo ở địa phương mở rộng mô hình.


Nhím, vật nuôi mới ở Bến Tre


Từ Tiền Giang, qua cầu Rạch Miễu đến tỉnh Bến Tre, tôi được nhiều người dân xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) giới thiệu anh Phan Văn Xuyên đã nuôi nhím thành công. Anh Xuyên cho biết: “Nhím là loài động vật hoang dã, khi nuôi phải đăng ký với cơ quan kiểm lâm; chi phí đầu tư mua con giống và xây dựng chuồng nuôi ban đầu tuy hơi cao, nhưng bù lại nhím là loài ăn tạp (chủ yếu là các loại rau, củ quả) nên khâu chăm sóc và theo dõi không khó, nhím ít bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp”.


Chuồng nuôi nhím được thiết kế đơn giản bằng cách xây tường xi măng trên một khoảng sân hình chữ nhật. Tường xây cao khoảng 1m, bao quanh phía trên tường là lưới B40 và có cửa ra - vào chắc chắn. Bên trong chuồng, được chia thành nhiều ngăn, mỗi ngăn có diện tích 10m2, thả nuôi một đôi nhím. Anh Xuyên hiện có hai dãy chuồng xi măng nuôi gần 50 con nhím các loại.


Theo tính toán của anh Xuyên, bình quân cứ đầu tư khoảng 1 triệu đồng thức ăn, sau 2 năm nuôi, nhím sẽ đạt trọng lượng trên 10kg, đó là chưa kể nhím cái còn đẻ nhím con. Để giúp nhím phát triển nhanh, anh Xuyên thường xuyên theo dõi nguồn thức ăn của nhím để điều chỉnh cho phù hợp, vệ sinh chuồng sạch sẽ, thỉnh thoảng phơi chuồng dưới ánh nắng để tiêu diệt mầm bệnh. Nhờ vậy, đàn nhím của anh tăng trưởng nhanh, không bị bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp, sinh sản đều. Từ năm 2006 đến nay, gia đình anh đã xuất bán hơn 10 cặp nhím giống và hàng chục kilôgam nhím thương phẩm. Nhím giống 3 tháng tuổi được anh bán với giá 6 triệu đồng /cặp, nhím thịt 300.000 đồng/kg


Đây là mô hình đang được các ngành chức năng huyện Mỏ Cày nghiên cứu và nhân rộng để giúp người dân nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên ổn định cuộc sống, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

Kinh tế nông thôn
(2009-08-26)

 

Hà Tĩnh: Người tiên phong trong phát triển kinh tế trang trại theo hướng VACR ở Thượng Lộc

Email In PDF.

Những năm gần đây, phong trào kinh tế theo hướng VACR ở xã Thượng Lộc huyện Can Lộc phát triển mạnh. Trong số những hộ làm kinh tế trang trại có thu nhập từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng ở xã này, chúng tôi thật sự ấn tượng với mô hình trang trại của anh Phan Văn Sơn ở xóm Đập Hầu. Ngoài những cây, con phổ biến trong kinh tế trang trại thường thấy, anh Sơn "đột phá" hơn thiên hạ ở đối tượng nuôi mới, đó là nuôi lợn rừng lai.

Đọc thêm...
 

An Giang: Tăng cường đầu tư công tác khuyến nông, khuyến ngư cho 25 xã đặc biệt khó khăn

Email In PDF.
Tỉnh An Giang đang khởi động chương trình khuyến nông, khuyến ngư cho người nghèo, vùng địa bàn 25 xã đặc biệt khó khăn.
Đọc thêm...
 

Hội Làm vườn Tương Dương: Bí quyết để được "ưu ái"

Email In PDF.
Được lãnh đạo huyện tin tưởng giao cho các nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, Hội Làm vườn (HLV) huyện Tương Dương (Nghệ An) đã xây dựng khá nhiều mô hình mới dựa trên lợi thế sẵn có của các địa phương.
Đọc thêm...
 

Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên: Nhiều nông dân mạnh dạn đầu tư mua máy gặt đập liên hợp làm kinh tế gia đình

Email In PDF.

Trong mùa thu hoạch lúa vụ Hè Thu năm 2009, bà con nông dân tại các phường 8, 9 thành phố Tuy Hòa rất ngạc nhiên khi thấy những chiếc máy gặt đập liên hợp (GĐLH) lần đầu tiên làm việc trên đồng lúa địa phương mình. Mọi người tập trung theo dõi cách máy GĐLH thu hoạch lúa, ai cũng trầm trồ thán phục về hiệu quả của máy GĐLG và đăng ký đưa máy về thu hoạch lúa ruộng gia đình mình.

Đọc thêm...
 

Bình Thuận: Nghề nuôi cá mú bằng lồng bè trên đảo Phú Quý

Email In PDF.

Huyện đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) nằm cách đất liền hơn 50 hải lý. Trước đây, người dân Phú Quý chủ yếu sống bằng nghề khai thác thuỷ sản. Mấy năm gần đây, nhiều người dân trên đảo đã đầu tư làm lồng bè nuôi cá mú trên biển, thu lợi hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Nhiều gia đình không còn nỗi lo chồng con lênh đênh trên biển trong những ngày dông bão. Phú Quý đã trở thành địa phương nuôi cá mú bán tự nhiên vào loại lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Đọc thêm...
 
Trang 199 trong tổng số 332

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video