Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nói thêm về giống lúa BC-15

Email In PDF.

Nói thêm về giống lúa BC-15

Giống lúa BC-15 sản xuất vụ thu 2009 trên địa bàn HTXNN2 Cát Hanh (Phù Cát - Bình Định) chiếm tỉ lệ hơn 90% trên diện tích 50ha chuyển đổi từ sản xuất 3vụ/năm sang sản xuất 2vụ/năm.

Và hiện nay, khi giống lúa BC-15 đang vào độ sắp thu hoạch, cùng với bà con nông dân chúng tôi hân hoan nói rằng “đã thắng lợi lớn trên diện tích sản xuất 2vụ/năm”, bởi năng suất bình quân ước đạt 66tạ/ha, cá biệt đạt 70tạ/ha. Tuy nhiên, với giống lúa BC-15 và với chính địa phương chúng tôi, con đường đi đến kết quả nói trên không hề bằng phẳng.


Còn nhớ, vụ ĐX 2007-2008, lần đầu tiên Ban chủ nhiệm HTXNN2 Cát Hanh đã cùng Cty CP Giống cây trồng Thái Bình đưa vào sản xuất giống lúa BC-15 trên diện tích 68,4ha với 307 hộ gia đình tham gia, trong đó: diện tích gieo sạ giống BC-15 nguyên chủng là 45,4ha với 168 hộ tham gia và có ký kết hợp đồng sản xuất; diện tích gieo sạ giống BC-15 cấp1 là 23ha với 139 hộ gia đình tự nguyện sản xuất. Và kết quả sản xuất ở vụ này nhìn chung đã thất bại. Chính từ sự thất bại này đã gây xôn xao, thậm chí chấn động dư luận.


Về mặt pháp lý, Cty CP Giống cây trồng Thái Bình chỉ chấp nhận hỗ trợ (đúng hơn là bồi thường) 400 ngàn đồng/500m2 cho những hộ gia đình có ký kết hợp đồng sản xuất, riêng ngành chức năng địa phương thì tỏ ra lúng túng, và có lúc giống lúa này bị cấm đưa vào sản xuất. Về mặt kỹ thuật, đã tạo ra 2 luồng dư luận trái ngược nhau, luồng thứ nhất cho rằng bản thân giống lúa BC-15 đã bị nhiễm bệnh đạo ôn mức độ nặng và không phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng địa phương; luồng thứ hai lại nói do không tuân thủ lịch mùa vụ, mật độ gieo sạ quá dày so với khuyến cáo (3-4kg/500m2), bón phân không cân đối và bệnh đạo ôn đã có sẵn trên cánh đồng.


Trong khi “lời giải” cho những nghi vấn trên vẫn còn đang bỏ ngỏ thì vụ thu tiếp đó, dù không được khuyến cáo nhưng vẫn có đến 50 hộ gia đình “âm thầm” gieo sạ giống lúa BC-15 trên diện tích 6ha. Riêng chúng tôi thì lặng lẽ theo dõi, quan sát suốt quá trình sinh trưởng phát triển cây lúa trên diện tích này. Nói là lặng lẽ nhưng thật ra chúng tôi có mặt gần như thường xuyên và luôn sẵn sàng hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho bà con ở từng thời điểm nếu có “sự cố”. Và vụ thu ấy, trên diện tích ấy hầu như rất ít sâu bệnh, cá biệt chỉ có 2 thửa bị bệnh đạo ôn mức độ nhẹ, và năng suất bình quân ước đạt 62tạ/ha.


Anh Trần Văn Quế, một trong số 50 hộ “xé rào”, cho biết: “Vụ ĐX 2007-2008 là vụ đầu tiên gieo sạ giống lúa BC-15, nhưng đa số bà con vẫn theo thói quen cũ, đó là không triệt để tuân thủ lịch mùa vụ và chủ quan xem giống lúa BC-15 cũng như các giống lúa khác trong quá trình canh tác, do đó chúng tôi đã phải đón nhận hậu quả không vui. Và sở dĩ có được kết quả như trên là nhờ rút kinh nghiệm từ vụ ĐX, trong đó cơ bản nhất vẫn là tuân thủ lịch mùa vụ, mật độ gieo sạ, điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp và thường xuyên thăm đồng”.


Vụ ĐX 2008-2009 liền kề, diện tích gieo sạ giống lúa BC-15 tiếp tục tăng lên, trong đó có 1,5ha là giống nguyên chủng sản xuất theo diện “hợp đồng tự nguyện” giữa 11 hộ gia đình với Ban chủ nhiệm HTX (nguồn giống lấy từ chi nhánh Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình tại Quảng Nam). Có thể nói rằng, vụ ĐX 2008-2009 là “liều thuốc thử cuối cùng” để đánh giá và khẳng định đúng mực về giống lúa BC-15 trên địa phương này, bởi vụ ĐX có sự khác biệt so với vụ thu ở chỗ mưa nhiều, độ ẩm cao, cây lúa thường gặp lạnh ở giai đoạn sau Tết Nguyên đán nên rất dễ phát sinh bệnh đạo ôn. Do đó, ngoài việc áp dụng kinh nghiệm ở vụ thu 2008, vụ ĐX này dù muốn dù không bà con cũng đã phải phun thuốc ngừa bệnh đạo ôn (2 lần/vụ). Kết quả năng suất bình quân vụ ĐX này đạt 64tạ/ha.


Vậy nguyên nhân nào khiến bà con nông dân ở đây từ chỗ ngờ vực đến kiên trì rồi duy trì và phát triển giống lúa BC-15? Theo chúng tôi, có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, hầu hết các giống lúa đang có trên địa bàn phần bị thoái hoá, phần vì năng suất cũng chỉ “thường thường bậc trung”, hoặc năng suất khá cao nhưng không được ưa chuộng trên thị trường, trong khi chưa có giống lúa mới nào khả dĩ khắc phục được các nhược điểm nói trên; thứ hai, giống lúa BC-15 xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy, bước đầu tuy bị ngờ vực nhiễm nặng bệnh đạo ôn gây mất năng suất, nhưng ấn tượng của nó là ngon cơm và được giá trên thị trường, lại có thời gian sinh trưởng phù hợp với sản xuất 2vụ/năm – đây chính là tiền đề của nguyên nhân thứ ba, đó là sự kiên trì, cần cù và từng bước rút kinh nghiệm trong quá trình canh tác của bà con nông dân.


Như vậy, qua 3 vụ liên tiếp, đặc biệt là kết quả từ “liều thuốc thử” vụ ĐX 2008-2009 đã tạo ra sự “bùng nổ” giống lúa BC-15 ở vụ thu 2008 như đã đề cập ở phần đầu. Và chúng tôi cũng hoàn toàn thống nhất ý kiến nhận xét của Th.S Trần Xuân Định về giống lúa BC-15 qua bài “Vì sao giống lúa BC-15 lại “kẻ yêu người ghét”” đăng trên Báo NNVN số 121, ngày 18/6/2009, đại ý: Giống lúa BC-15 không dễ tính, nó sẽ đạt năng suất trên 70tạ/ha với điều kiện: người sản xuất phải tuân thủ tốt qui trình, chí thú với ruộng vườn, phòng trị bệnh kịp thời, điều trị ngay khi nó vừa “hắt hơi sổ mũi”. Khuyến cáo không nên sản xuất giống lúa này trong các trường hợp: xem làm ruộng là nghề phụ, hộ gia đình neo đơn, già cả, không đủ lực đầu tư; đất lầy thụt, chua trũng, mỏng màu…

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 

Việt Lai 50: Bước đột phá lúa lai Việt

Email In PDF.

Trong những năm gần đây diện tích gieo cấy lúa lai của Việt Nam ngày càng tăng. Theo báo cáo sơ kết của Cục Trồng trọt, diện tích lúa lai thương phẩm vụ đông xuân 2009 đạt 378.509 ha, chiếm 32,6% so với tổng diện tích lúa của miền Bắc. Vùng đồng bằng sồng Hồng đạt 142.246ha, chiếm 25% diện tích, một số tỉnh có diện tích tăng mạnh là Hải Dương tăng 4.564ha, Bắc Ninh tăng 6.395ha, Nam Định tăng 6.390ha…

Hàng năm nhu cầu cần 15.000 – 18.000 tấn giống lúa lai để phục vụ sản xuất đại trà, trong đó Việt Nam đã chủ động 30%, còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc.


Có được kết quả trên do có chủ trương đúng đắn của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương, nhất là có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai. Đối với lúa lai 3 dòng, tổng kết cho thấy sản xuất hạt lai F1 năng suất thường thấp, chất lượng không cao vì vậy giá thành không hạ là mấy so với lúa nhập khẩu, vì vậy các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai 2 dòng.


Đến nay chúng ta đã rất thành công trong lĩnh vực này, nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng đã được công nhận như TH3-3, TH3-4, VL20, VL24… được đưa vào cơ cấu giống của nhiều tỉnh, nông dân ưa chuộng vì chất lượng gạo khá lại ngắn ngày. Nổi bật giống TH3-3 đã sang nhượng bản quyền với giá kỷ lục 10 tỷ đồng, tạo tiếng vang lớn, là động lực để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai mới. Các tổ hợp lúa lai 2 dòng của Việt Nam đa phần đáp ứng được các mục tiêu: dễ sản xuất hạt lai F1 với năng suất trung bình 2,5 – 3 tấn/ha, chi phí thấp hơn hẳn so với sản xuất hạt lai F1 lúa lai ba dòng. Lúa lai thương phẩm có khả năng chống chịu sâu, bệnh và điều kiện bất thuận khá, năng suất và chất lượng khá cao, đặc biệt hầu hết đều là giống ngắn ngày.


Việt Lai là một thương hiệu lúa lai hai dòng của Viện Nghiên cứu Lúa - Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Việt Lai 20 do PGS - TS Nguyễn Văn Hoan - Giám đốc Viện Nghiên cứu Lúa chọn tạo, là giống lúa lai hai dòng được Bộ Nông nghiệp & PTNT đưa vào danh sách giống lúa được phép sản xuất kinh doanh, cũng là giống lúa lai đầu tiên sang nhượng bản quyền sản xuất. Nối tiếp thành quả đó, Viện tiếp tục chọn tạo thành công giống Việt Lai 24, đây là giống lúa lai có khả năng chống bạc lá rất tốt, ngắn ngày (thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 92 - 97 ngày) được đặc cách công nhận giống để đưa vào phục vụ sản xuất trong vụ xuân muộn và mùa sớm, nhất là chân đất trồng cây vụ đông sớm. Nông dân đánh giá cao hai giống trên bởi nhiều ưu điểm: ngắn ngày, chống bạc lá, năng suất, chất lượng khá, tuy nhiên cả hai giống đều thuộc loại hình bông không to, số hạt trên bông không nhiều, tiềm năng năng suất hạn chế.


Khắc phục nhược điểm, PGS - TS Nguyễn Văn Hoan cùng cộng sự đã nghiên cứu thành công giống lúa lai hai dòng thế hệ mới: Việt lai 50 (VL50). Theo báo cáo tổng kết của Viện Nghiên cứu Lúa - ĐH Nông nghiệp HN, kết quả khảo nghiệm giống VL50 năng suất bình quân 70 tạ/ha, cao nhất là ở tỉnh trung du miền núi như Phú Thọ, Bắc Giang, năng suất đạt 75 – 80 tạ/ha, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân phía bắc chỉ 115 – 120 ngày, đẻ nhánh trung bình, thuộc loại hình bông to, nhiều hạt, trung bình 250 – 300hạt/bông.


Theo PGS - TS Nguyễn Văn Hoan, VL50 là giống lúa có kiểu xếp hạt đặc biệt, hạt nọ xếp chồng hạt kia nên bông tuy không dài hơn nhiều giống lúa lai khác nhưng số hạt trên bông lại có thể cao gấp 1,5 lần chính vì vậy tuy thời gian sinh trưởng ngắn nhưng tiềm năng năng suất của giống VL50 rất cao. Trong thời gian tới ngoài việc nâng cao độ thuần của giống Viện sẽ bố trí thí nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình thâm canh giống VL50 ở từng vùng sinh thái như áp dụng phương pháp cấy hàng rộng hàng hẹp, cấy mạ non, cấy mật độ 40 khóm/m2, 2 – 3 dảnh cơ bản/khóm (do VL 50 khả năng đẻ nhánh trung bình) đưa số bông/m2 đạt khoảng 300 bông thì mới khai thác tối đa tiềm năng năng suất giống.

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 

Bệnh bạch tạng trên cây bắp

Email In PDF.

Bệnh bạch tạng trên cây bắp

Thời gian gần đây bà con nông dân trồng bắp trên các vùng chuyên canh đang đối mặt với bệnh bạch tạng gây hại khá nghiêm trọng trên cây bắp, nhiều nông dân buộc phải nhổ bỏ hoặc gieo trồng cây khác, nếu cố gắng dùng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ thì cũng không đạt được hiệu quả. Một trong những nguyên nhân là do bệnh mới nông dân chưa nhận diện được bệnh cũng như chưa dùng đúng thuốc đặc trị bệnh này.

Để phòng trừ bệnh có hiệu quả, bà con chú ý những điểm sau:


1- Nhận diện đúng bệnh


Bệnh bạch tạng được gọi với nhiều tên khác nhau như: Mốc sương, Java downy mildew. Bệnh gây hại khá phổ biến trên bắp từ trung du cho đến đồng bằng. Trong năm, bệnh gây hại tập trung trong khoảng tháng 10 đến tháng 2, 3 dương lịch. Do nhiệt độ thấp về đêm, sáng có sương mù, ẩm độ cao. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá. Cây bệnh có thể xuất hiện rất sớm, khi bắp có 2-3 lá thật, và có thể kéo dài đến trổ cờ. Triệu chứng điển hình là vết sọc vàng dài, mặt dưới và trên vết bệnh có mốc trắng (là những bào tử lây nhiễm). Cây nhiễm nặng lá màu trắng bạc, lùn và chết dần.


Bệnh do nấm Slerospora maydis gây ra, theo ghi nhận gần đây bệnh gây hại nặng trên các giống bắp trắng nù địa phương, nhất là trên diện tích trồng có mật độ cao.


Bệnh bạch tạng phát tán lây nhiễm bằng bào tử, hoặc hạt giống nhiễm.


2- Phòng trừ tổng hợp


- Vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo trồng.


- Gieo trồng đồng loạt.


- Không chọn giống từ cây nhiễm bệnh.


- Nên xử lý giống trước khi gieo với thuốc trừ bệnh Manthane M 46, Juliet 80 WP.


- Không trồng liên tục nhiều vụ, luân canh với cây khác họ nhất là cây lúa.


- Bón phân NPK, không bón nhiều phân đạm.


- Sử dụng thuốc khi mới phát hiện như Manthane M46, Juliet 80WP phun kỹ, Foraxyl 35 WP, đều 2 mặt lá, nếu cần thiết nên xử lý lần 2, lần 3 sau đó 5 đến 10 ngày.


Đối với vùng chuyên canh bắp thì phòng ngừa bệnh là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng suất sau này, phun ngừa định kỳ. Trong đó biện pháp kỹ thuật canh tác là yếu tố quyết định đến áp lực bệnh, do đó điều cần thiết khi gieo trồng bắp chuyên canh bà con chú ý đến khâu sửa soạn đất, giống, và thời vụ tập trung để giảm áp lực bệnh. Như thế chúng ta sẽ giảm được chi phí sản xuất, tăng chất lượng thương phẩm, cuối cùng là tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị sản xuất.

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 

Cách phòng trị ngài hút chích trái cam, quýt

Email In PDF.

Cách phòng trị ngài hút chích trái cam, quýt

Theo các nhà chuyên môn thì ở đồng bằng sông Cửu Long có ít nhất 15 loài ngài chích hút gây hại trái cây được ghi nhận trên các vườn cam quýt, trong đó phổ biến nhất là 4 loài: Eudocima salaminia, Othreis fullonia, Ophiusa coronata và Rhytia hypermnestra.


Ngoài gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch của trái làm cho trái bị khô, vết chích của chúng còn tạo ra vết thương trên trái. Những vết thương này là cửa ngõ cho nhiều loại nấm bệnh như Fusarium spp., Colletotrichum spp., Oospora citri, Oospora spp.… tấn công gây hại, làm cho trái bị thối và bị rụng rất nhanh, gây thất thu rất lớn cho nhà vườn.


Ngài gây hại chủ yếu ở giai đoạn trưởng thành (ấu trùng không gây hại). Ban ngày chúng lẩn trốn trong các lùm cây mọc hoang dại gần vườn cam quýt. Khi trời bắt đầu tối chúng bay vào vườn cây để bắt cặp và gây hại. Ban đêm rất dễ nhận diện do mắt của chúng chiếu sáng và cánh có ánh lấp lánh.


Ngoài cam quýt, ngài chích hút còn gây hại trái của nhiều loại cây ăn trái khác như: nhãn, ổi, đào, chôm chôm, xoài, khế... vì thế việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn.


Để hạn chế tác hại của ngài chích hút, xin giới thiệu với bà con kinh nghiệm của một số nhà vườn ở vùng chuyên canh cây cam quýt của tỉnh Đồng Tháp:


- Thường xuyên vệ sinh vườn cây sạch sẽ, phát quang hết những bụi rậm, cỏ dại... để hạn chế nơi trú ẩn của con trưởng thành và nơi sinh sống của con ấu trùng.


- Từ khi trái bước vào giai đoạn da lươn trở đi, phải kiểm tra vườn cam quýt thường xuyên để kịp thời phát hiện con trưởng thành. Nếu thấy có con trưởng thành có thể dùng đèn pin hoặc đèn ác quy… soi và dùng vợt bắt vào ban đêm (từ 6 giờ tối đến 10 giờ đêm).


- Lợi dụng đặc tính của con trưởng thành là rất thích mùi hôi chua thối đặc trưng của trái cam quýt bị chúng gây hại, vì thế có thể đặt bẫy thức ăn bằng cách dùng chuối xiêm, chuối già, mít… chín nhũn. Hoặc bẫy chua ngọt với thành phần gồm có nước ép của trái khóm (dứa) chín hoặc nước rỉ đường trộn thêm 1% thuốc Dipterex đặt trong vườn cam quýt (khoảng 5-10 bẫy/ha) để dẫn dụ thu hút con trưởng thành đến tiêu diệt.


- Nếu có điều kiện, từ khi trái bước vào giai đoạn da lươn trở đi nên bao trái bằng những loại bao chuyên dùng.

Nông nghiệp Việt Nam
(2009-09-01)

 

Phòng trừ sâu đục trái đậu xanh

Email In PDF.

Phòng trừ sâu đục trái đậu xanh

Sâu đục trái đậu xanh có tên khoa học là Maruca testulalis; Họ: Pyralidae; Bộ Lepidopera. Đây là loài sâu có phổ ký chủ rất rộng gồm đậu xanh, trắng, đen, đũa, cô-ve, bông so đũa... Sâu xanh có lông thường ở bên ngoài trái, thò đầu vào bên trong ăn hạt rồi sau đó bỏ đi sang ăn trái khác.


Sâu đục bên trong trái đậu xanh, thường nhiều con cùng thải phân ra ngoài đó. Bướm có màu nâu đậm, giữa cánh trước có một vệt màu trắng; cánh sau màu trắng bóng có bìa nâu đen, thân dài 10-13 mm. Ấu trùng màu trắng hơi nâu, trên lưng mỗi đốt có sáu đốm vuông cạnh hay bầu dục màu nâu đậm. Trứng được đẻ trên hoa, đài và trái non. Sâu non kết hoa lại, ăn phá bên trong hoặc đục vào bên trong trái non, chất phân thải làm trái bị dơ, dễ rụng.


Do sâu nằm sâu trong trái nên khó phòng trị. Nhộng làm trong các kẹt lá khô. Loài này xuất hiện nhiều trong mùa mưa. Ấu trùng có thời gian phát triển khoảng 10 ngày. Chu kỳ sinh trưởng lâu độ 3 tuần đến 1 tháng. Trong trường hợp mật số sâu cao, nếu không phòng trị kịp thời sẽ gây thất thu năng suất đậu xanh đến 90%.


Phòng trị:


Nên trồng sớm và đồng loạt để dễ theo dõi, không nên xen canh với các cây cùng họ như: đậu xanh, đậu đũa, đậu trắng, đậu đen.


Khi có nhiều sâu, sử dụng một trong các loại thuốc gốc cúc có tính phân hủy nhanh trong giai đoạn tăng trưởng trái như Cyperan 10EC, Cyper 25EC, Arrivo 10EC, Peran 10 EC, Agroperin 10EC, Tigifast 10EC... với nồng độ 10-20 ml/bình 16 lít (2-3 bình/1.000 m2) vào trước giai đoạn ra hoa hoặc lúc tạo trái non. Để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, nên ngưng xịt thuốc vài ngày trước khi thu hoạch.


Thuốc vi sinh BT có chứa độc tố và bào tử vi khuẩn Bacillus thuringiensis, thường rất có hiệu quả đối với sâu thuộc họ Pyralidae này. Nên trộn thuốc hóa học với thuốc BT để vừa tăng hiệu lực vừa ít bị sâu kháng thuốc.

Báo Nông nghiệp
(2009-09-01)

 
Trang 357 trong tổng số 554

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video