Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Yên Bái phục tráng cây ăn quả đặc sản

Email In PDF.

Yên Bái phục tráng cây ăn quả đặc sản

Theo số liệu thống kê, đến nay toàn tỉnh Yên Bái có khoảng 9.000 ha cây ăn quả các loại, trong đó hơn 7.500 ha đang cho thu hoạch với sản lượng hàng năm đạt trên 31.000 tấn đưa lại nguồn thu trên 150 tỷ đồng.

Tuy là một tỉnh miền núi nhưng Yên Bái có điều kiện khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng đất đai phù hợp với việc phát triển nhiều loại cây ăn quả có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới nhưng trong nhiều năm qua công tác chọn giống, phục tráng, bảo tồn và phát triển chưa được chú trọng nên nhiều giống cây ăn quả quí đang ngày càng bị mai một, thoái hóa về nguồn gen, giảm sút về diện tích, sản lượng và chất lượng. Đáp ứng nhu cầu về nguồn giống tốt, chất lượng cao, sạch bệnh của một số giống cây ăn quả đặc sản của nông dân để mở rộng diện tích đến năm 2010 toàn tỉnh sẽ có 10.000 ha cây ăn quả các loại, ngành nông nghiệp Yên Bái đang tập trung toàn lực vào công tác phục tráng, bảo tồn và nhân nhanh các giống cây ăn quả đặc sản của địa phương.


Nguyên tắc đề ra là bảo tồn, phục tráng tại nơi nguyên sản. Nhiều giống cây ăn quả bản địa quí của Yên Bái đã được phục tráng, nhân giống cung cấp cho bà con nông dân và các địa phương trong tỉnh trồng theo từng vùng sinh thái khác nhau như: hồng không hạt ở xã Vĩnh Lạc, huyện Lục Yên; bưởi đặc sản Đại Minh ở làng Khả Lĩnh, xã Đại Minh, huyện Yên Bình; các giống cam sành, cam sen tại 2 huyện Văn Chấn, Lục Yên và các giống xoài, nhãn, vải, chanh tứ thời… ở các xã Minh Xuân (Lục Yên), Văn Tiến (Trấn Yên), Tân Thịnh, Minh Bảo (TP. Yên Bái) v.v…


Nói về giống hồng không hạt Lục Yên, TS. Đỗ Đình Ca, trưởng bộ môn Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả, đơn vị đang có nhiều công trình hợp tác nghiên cứu về cây ăn quả của Yên Bái nói chung, cây hồng nói riêng cho biết: Hồng không hạt Lục Yên là giống hồng ngon, dễ trồng, chỉ cần bấng rễ vào mùa xuân rồi ươm cho ra rễ, nẩy lộc, đem trồng xuống đất là cây lên xanh tốt, cho quả sau 5-6 năm và có thể thu hoạch liên tục tới vài chục năm nếu được chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh tốt. Đây là cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao nên có đến gần nghìn hộ ở xã Vĩnh Lạc trồng hồng, người ít dăm bảy cây, nhà nhiều tới vài trăm cây, nhiều nhà còn tranh thủ nhân giống để bán.


Năm 1996 là thời điểm cây hồng ở Vĩnh Lạc phát triển mạnh nhất, tới trên 160 ha. Vào năm được mùa, mỗi cây cho tới trên 4 tạ quả, toàn xã đạt sản lượng hơn 160 tấn, có nhà thu lãi 40-50 triệu đồng/năm. Tuy nhiên trong những năm gần đây tình trạng hồng không hạt Lục Yên có dấu hiệu suy thoái, sinh trưởng kém, năng suất giảm do không được đầu tư chăm sóc và phát sinh nhiều đối tượng sâu bệnh lạ gây hại dẫn đến rụng quả hàng loạt do đó diện tích đang bị giảm dần, hiện chỉ còn khoảng 100 ha. Viện đang phối hợp với ngành nông nghiệp Yên Bái tập trung nghiên cứu, tìm ra những giải pháp thâm canh, phòng trừ sâu bệnh tốt nhất để “giải cứu” cho giống hồng quí nhằm tiến tới bảo tồn và nhân rộng.


Ngoài ra, Viện cũng sẽ phối hợp với Trung tâm Khuyến nông, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và PTNT Yên Bái tiến hành điều tra, khảo sát, tuyển chọn các cây đầu dòng của giống quýt ngon nổi tiếng Văn Chấn, bưởi đường Khả Lĩnh, Đại Minh; cam sành, cam sen Lục Yên, Văn Chấn; nhãn vải vùng phía bắc huyện Văn Yên và vùng trong của huyện Yên Chấn để bảo tồn, nhân rộng phục vụ cho chương trình phát triển cây ăn quả đặc sản của Yên Bái trong thời gian tới.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-05)

 

Ninh Thuận: Tìm lại vị thế cây nho

Email In PDF.

Ninh Thuận: Tìm lại vị thế cây nho

Nho là cây trồng thế mạnh của tỉnh Ninh Thuận. Sau một thời gian phát triển tự phát dẫn đến chất lượng suy thoái, ngành chức năng của tỉnh đã bắt đầu đưa ra những giải pháp nhằm tìm lại vị thế của nho.


Ở Ninh Thuận, nho được trồng nhiều ở các huyện: Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước. Nhờ cây nho, nhiều hộ đã thoát nghèo, làm giàu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh cùng với việc trồng nho ồ ạt, mang tính tự phát, dẫn đến chất lượng nho ngày càng giảm. Để khắc phục tình trạng này, tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp mạnh dạn thay thế giống nho đỏ bằng các giống nho cho năng suất cao. Theo quy hoạch của địa phương, đến năm 2010, diện tích nho chiếm 30% diện tích đất nông nghiệp. Tỉnh sẽ chủ động tìm đầu ra cho nông dân, đầu tư xây dựng nhà chế biến các sản phẩm từ nho và hướng tới xuất khẩu. Đưa vào sử dụng những loại phân bón sinh học để hạn chế sâu bệnh cho cây nho.


Anh Lê Trung Hiếu ở thôn Tân Sơn 2, xã Thành Hải (thị xã Phan Rang – Tháp Chàm), một trong những người trồng nho lâu năm ở Ninh Thuận cho biết: “Trước đây, vườn nho nhà tôi thường bị sâu bệnh gây hại, đặc biệt là bệnh nấm trắng. Tôi định phá nho để trồng cây khác. Nhưng khi sử dụng phân bón sinh học WEGH của Công ty cổ phần Thế giới thông minh (quận Bình Thạnh – TP. Hồ Chí Minh), vườn nho của gia đình tôi như được hồi sinh. WEGH không những giúp nông dân giảm chi phí sản xuất mà còn bảo vệ môi trường, giảm sâu bệnh. Ngoài ra, WEHG còn tạo điều kiện cho rễ sinh trưởng nhanh, mọc dài và sâu, rất cần thiết cho những vùng đất khô cằn”.


Thiết nghĩ, tiềm năng quỹ đất để phát triển cây nho ở tỉnh Ninh Thuận khá dồi dào, nhưng chưa được khai thác đúng tầm, công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế nên đầu ra của sản phẩm không ổn định, gây khó khăn cho nông dân. Nho đã được lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận xác định là cây lợi thế của địa phương, do vậy, cần có những hướng đi phù hợp. Hy vọng với việc quy hoạch vùng trồng nho trọng điểm đến năm 2010 và sự “góp sức” của phân bón sinh học WEGH, Ninh Thuận sẽ trả lại vị thế số một cho cây nho.

Kinh tế nông thôn
(2009-01-05)

 

Hoa đất miền sông Lục

Email In PDF.

Thiên nhiên hào phóng ban tặng cho vùng đất Lục Nam nhiều loại trái ngon mà nhiều nơi không có được. Đó là nhãn lồng Đan Hội, na dai Huyền Sơn, hạt dẻ Tứ Sơn (Bình Sơn, Lục Sơn, Trường Sơn, Vô Tranh), dứa Bảo Sơn… đã và đang vươn xa mang lại niềm tự hào cho người dân sông Lục, núi Huyền.

Gọi là nhãn lồng Đan Hội nhưng thực ra người dân ở các xã Vũ Xá, Cẩm Lý cũng có những vườn nhãn trĩu quả và hương vị thơm ngon không khác so với nhãn của xã Đan Hội nên gọi chung là nhãn lồng Đan Hội. Người ta bảo giống nhãn này có nguồn gốc từ giống nhãn lồng cung tiến vua của phố Hiến (Hưng Yên) nhưng lại có thêm hương vị đậm đà của vùng đất do phù sa sông Lục tạo nên. Nhãn lồng Đan Hội quả to, tròn, đều, hạt nhỏ và có vị ngọt sắc. Cứ vào cữ tháng Sáu, tháng Bảy hàng năm, những vườn nhãn lúc lỉu quả thu hút khách thập phương chào hàng. Nhãn tươi được vận chuyển bằng xe tải tới các tỉnh, thành phố trong khu vực miền Bắc tiêu thụ. Nhiều khách hàng còn thu mua, đặt lò sấy nhãn ngay tại địa phương. Long nhãn Đan Hội có màu vàng cánh gián, ngọt lịm, còn dùng làm vị thuốc nam rất quý. Chỉ tính riêng xã Đan Hội hiện có gần 50 ha nhãn, tập trung nhiều ở thôn Chiền, Vườn, Triệu… Những năm được mùa, sản lượng nhãn toàn xã lên tới 500-600 tấn quả, mang lại giá trị hàng tỷ đồng. Nhiều người dân xã Cẩm Lý, Vũ Xá và Đan Hội coi nhãn là cây trồng giúp xóa đói, giảm nghèo hiệu quả. Gia đình ông Nguyễn Văn Chiếu, thôn Chiền có vườn nhãn, trong đó có 4 cây năm nay đã gần 60 năm tuổi nhưng vẫn cho quả sai, trung bình mỗi năm 5-7 tạ quả/cây. Nhờ vườn nhãn này mà ông Chiếu có thêm điều kiện lo cho các con trưởng thành, cuộc sống ổn định…


Ở Lục Nam còn có hạt dẻ Tứ Sơn thơm, bùi nức tiếng. Hạt dẻ Tứ Sơn không to bằng hạt dẻ Trùng Khánh (Cao Bằng) nhưng nếu lấy từ quả dẻ đầu thu hái đúng độ chín, luộc trước khi rang cùng với cát tới độ chín giòn thì khó có loại hạt dẻ nào thơm, bùi và ngậy bằng. Những năm trước đây, cây dẻ Tứ Sơn bị chặt phá do nạn khai thác rừng bừa bãi có nguy cơ xoá sổ. Thời gian gần đây, đất rừng được giao ổn định cho các hộ dân, công ty lâm nghiệp quản lý nên cây dẻ Tứ Sơn có nhiều cơ hội bảo tồn, phát triển. Thêm vào đó, nhờ giá trị kinh tế của cây dẻ nên nhiều người dân khoanh nuôi, tái sinh rừng dẻ với mục tiêu thu hoạch quả. Theo đánh giá của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, hiện Lục Nam có hơn 2 nghìn ha dẻ tái sinh, tập trung nhiều ở các xã vùng miền núi cao phía đông huyện. Những năm dẻ được mùa, sản lượng lên tới hơn 10 nghìn tấn, mang lại giá trị hàng tỷ đồng. Điều đặc biệt là cây dẻ phát triển tự nhiên, không cần chăm bón nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao nên huyện Lục Nam đã có đề án bảo tồn, phát triển cây dẻ địa phương trở thành lợi thế kinh tế đặc trưng riêng của vùng bờ đông sông Lục… Na Huyền Sơn mang nét đặc trưng riêng của huyện Lục Nam là được trồng chủ yếu trên đất đồi, núi. Quả na to, căng tròn đều nhưng vỏ lại mỏng, khi chín có màu xanh lơ, vị ngọt sắc. Nhờ hiệu quả kinh tế của cây na trên đất vườn đồi nên người dân nơi đây tiếp tục cải tạo vườn tạp, đất lâm nghiệp để mở rộng diện tích na. Hiện nay Huyền Sơn có gần 100 ha na và người dân nơi đây coi đó là cây trồng chủ lực để xoá đói, giảm nghèo và làm giàu. Cùng với na dai, cây dứa giống mới ở Bảo Sơn, Bảo Đài, Thanh Lâm tuy mới xuất hiện nhưng đã trở thành cây trồng đặc trưng của vùng nhờ chất lượng thơm ngon. Những năm trước đây, nhiều địa phương trong tỉnh đưa giống dứa Queen vào trồng nhưng không mang lại hiệu quả bởi điều kiện thổ nhưỡng cũng như trình độ thâm canh không phù hợp nhưng cây dứa vẫn được nhiều người dân các xã này trồng và nhân rộng. Ngoài ra nơi đây còn giống dứa mật truyền thống vẫn được người dân địa phương có đất vườn đồi thâm canh. Dứa Lục Nam quả to, khi chín lòng dứa chuyển sang màu vàng sẫm nhưng vỏ vẫn giữ màu xanh được khách hàng ưa chuộng. Đặc biệt ông Nguyễn Xuân Trường, thôn Hồ Sơn, xã Bảo Đài đã tìm tòi, sáng tạo xử lý cho dứa ra quả trái vụ, khi bán giá cao hơn 3-4 lần so với dứa thu hoạch chính vụ…


Còn rất nhiều loại rau, quả mang những nét đặc trưng của vùng đất sông Lục, núi Huyền. Trên diện tích đất canh tác cây hàng năm, Lục Nam còn có củ đậu Chu Điện; dưa hấu, hành, tỏi Tam Dị, Khám Lạng, Tiên Hưng… Đáng ghi nhận là phát huy lợi thế điều kiện tự nhiên cũng như tinh thần lao động cần cù của người dân nơi đây, Huyện uỷ, UBND huyện đã chủ trương và có chính sách khai thác hiệu quả các loại cây trồng có thế mạnh này.

Báo Bắc Giang
(2009-01-05)

 

Quy trình trồng ớt cay F1 Big hot (P22)

Email In PDF.

Quy trình trồng ớt cay F1 Big hot (P22)

Xin giới thiệu với bà con quy trình trồng ớt cay F1 Big hot (P22).

Đặc tính nông học


- Là giống ớt lai F1 có khả năng sinh trưởng, phát triển khoẻ, chiều cao cây từ 0,5 - 0,7 m. Thời gian từ trồng đến thu hoạch 80 - 90 ngày, thời gian thu hoạch kéo dài từ 30 - 40 ngày (tuỳ theo chế độ chăm sóc).


- Chống chịu tốt bệnh thán thư, bệnh chết rạp cây con.


- Có khả năng thích ứng rộng, trồng được ở nhiều vùng trên cả nước.


- Khả năng đậu quả rất tốt, sai quả, trọng lượng quả từ 14 - 18g/quả (55-70 quả/kg). Năng suất quả trung bình từ 0,7 - 2,0 kg/cây.


- Dạng quả thon dài, thẳng, thịt quả dày, màu sắc chín đỏ đẹp.


Những điểm chú ý khi trồng ớt cay Big hot


1. Thời vụ:


- Miền Bắc: Có thể trồng ở 2 thời vụ. Vụ xuân: gieo tháng 1, 2 (dương lịch), thu hoạch tháng 4, 5. Vụ thu đông: gieo tháng 7, 8, thu tháng 12-1 năm sau.


- Miền Trung: Trồng vụ đông xuân. Gieo hạt tháng 11, cấy tháng 12, thu hoạch tháng 3, 4.


2. Đất trồng:


- Chọn những chân đất thoát nước tốt, có cơ cấu thoáng xốp như đất cát pha, thịt nhẹ, đất phù sa cổ, đất canh tác lúa. Đất không hoặc ít nhiễm phèn mặn, có hàm lượng dinh dưỡng khá, pH thích hợp là 5,5 – 6,5. Ruộng trồng ớt cần chủ động tưới tiêu. Cần cày bừa kỹ và dọn sạch cỏ dại trước khi trồng. Nên luân canh cây ớt với các cây trồng khác, không nên trồng ớt nhiều vụ liên tiếp hoặc trồng trên đất đã trồng các cây họ cà trước đó.


3. Gieo hạt:


- Cây con có thể gieo trực tiếp trên luống hoặc gieo trong bầu. Đất làm vườn ươm cần được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống cao 25-30 cm, rộng 80-100 cm, trồng 1 ha ớt cần 100-150 m2 vườn ươm.


- Hạt giống nên ngâm trong nước ấm từ 2-3 giờ, ủ trong 2-3 ngày khi hạt nảy mầm thì gieo đều trên mặt luống. Hạt giống ớt Big hot đã qua xử lý nên có thể gieo trực tiếp bằng hạt khô.


- Dùng khay gieo hạt hoặc bầu sẽ đảm bảo được độ đồng đều và sức sống của cây khi trồng ra ngoài ruộng.


- Sau gieo 20-25 ngày có thể trồng ra ruộng.


4. Mật độ trồng:


- Trồng luống đôi 1,2 - 1,4 m, luống cao 20 - 30 cm, trồng hàng cách hàng 50 - 60 cm, cây cách cây 40 - 45 cm. Luống đơn 0,9 - 1 m, trồng cây cách cây 40 - 50 cm.


- Mật độ trồng khoảng 2.200 - 2.500 cây/1.000 m2 tương đương 800 - 900 cây/sào Bắc bộ- 360 m2.


5. Chăm sóc:


- Tưới tiêu: Phải giữ ẩm thường xuyên cho cây ớt đặc biệt ở giai đoạn ra hoa và quả non. Cần chú ý thoát nước tốt, tránh ngập úng.


- Phòng trừ sâu bệnh kịp thời.


- Dùng màng phủ nông nghiệp để phủ luống nhằm giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và ngăn chặn đất bắn lên quả trong mùa mưa làm thối quả.


5. Phân bón (lượng dùng cho 1 sào Bắc bộ):


- Phân chuồng 500 kg + 30 kg super lân + 20 kg vôi bột. Bón lót toàn bộ trước khi trồng.


+ Thúc 1 (sau trồng 20 - 25 ngày): 10 - 15 kg NPK + 1,0 kg canxi nitrate.


+ Thúc 2 (sau trồng 40 - 45 ngày): 7 - 10 kg NPK + 2 - 3 kg KCl.


+ Sau mỗi lần thu quả cần bón bổ sung cho cây từ 10 - 15 kg NPK.


Chú ý: Hạn chế sử dụng các loại phân đơn bón cho ớt, đặc biệt không nên bón nhiều đạm. Nên dùng các loại phân NPK phức hợp... Nên căn cứ vào tình trạng cây trên đồng ruộng để bón bổ sung cho phù hợp, có thể sử dụng các loại phân bón qua lá, phân chuyên dụng như Agriviet, Delta, Con cò... nhằm giúp cho cây tăng khả năng kháng bệnh, tăng năng suất và chất lượng.


6. Phòng trừ sâu bệnh:


- Sâu hại: Phòng trừ rệp, nhện trắng và sâu đục quả bằng Pegasus (10cc/8-10 lít) hoặc Vertimec (10cc/8-10 lít).


- Bệnh hại: Phòng trị thán thư, bệnh chết rạp cây, bệnh sương mai bằng Score (10cc/16 lít) và Ridomil Gold (50g/16 lít), chú ý phun phòng bệnh sương mai theo định kỳ bằng các loại thuốc gốc đồng (Cu); bệnh héo xanh do vi khuẩn gây ra, cần áp dụng các biện pháp canh tác để hạn chế bệnh như luân canh trên đất lúa, bón lót vôi bột (500kg/ha), sử dụng màng phủ nông nghiệp, thoát nước tốt trong mùa mưa, nhổ cách ly sớm cây bệnh.


- Cỏ dại : Phun Gramoxone (100cc/16 lít) giữa hàng, giữa luống. Chú ý: Tránh phun tiếp xúc lá ớt.


Ghi chú: Để tìm hiểu thêm về giống để sản xuất, bà con ở khu vực phía Bắc có thể liên hệ ThS Trương Quang Anh, ĐT 0912128726 để được tư vấn trực tiếp.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-05)

 

Kỹ thuật trồng nấm Linh Chi

Email In PDF.

Nấm Linh Chi là loài dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao. Phương pháp trồng, chăm sóc cũng không quá khó. Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất, chất lượng, bà con cần nắm rõ kỹ thuật trồng nấm Linh Chi.

Thời vụ: Cấy giống từ ngày 15/1 đến ngày 15/3 hoặc từ 15/8 đến 15/9 dương lịch.


Nguyên liệu: Chủ yếu là mùn cưa của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố. Ngoài ra, còn có thể sử dụng nguyên liệu là thân gỗ, cây thuốc họ Thân thảo.


Xử lý nguyên liệu


Chuẩn bị: Mùn cưa; túi nylon chịu nhiệt; bông nút, cổ nút; các loại phụ gia; nước sạch.


Đóng túi: Mùn cưa được tạo ẩm và ủ, sau đó trộn thêm các loại phụ gia rồi đóng vào túi sao cho trọng lượng đạt 1,1 - 1,4kg và tiến hành thanh trùng.


Thanh trùng: Hấp cách thuỷ ở nhiệt độ 100 độ C, thời gian 10 - 12 giờ hoặc thanh trùng bằng nồi áp suất ở nhiệt độ 119 - 126 độ C trong thời gian 90 - 120 phút.


Cấy giống


Phòng cấy giống được thanh trùng định kỳ bằng bột lưu huỳnh; chuẩn bị các loại dụng cụ: que cấy, panh kẹp, đèn cồn, bàn cấy, cồn sát trùng...


Nguyên liệu đã được thanh trùng, để nguội.


Sử dụng hai loại giống chủ yếu là trên hạt và que gỗ. Giống phải đúng tuổi, không bị nhiễm nấm mốc, vi khuẩn, nấm dại...


Phương pháp 1: Cấy giống trên que gỗ. Tạo lỗ ở túi nguyên liệu có đường kính 1,8 - 2cm, sâu 15 - 17cm. Khi cấy giống phải đặt túi nguyên liệu gần đèn cồn và túi giống, sau đó gắp từng que ở túi giống cấy vào túi nguyên liệu.


Phương pháp 2: Sử dụng giống cấy trên hạt. Dùng que cấy khều nhẹ giống cho đều trên bề mặt túi nguyên liệu. Lượng giống: 10 - 15g giống /túi nguyên liệu (1 túi giống 300g cấy cho 25 - 30 túi nguyên liệu).


Chú ý: Giống cấy phải đảm bảo đúng độ tuổi. Trước khi cấy dùng cồn lau miệng chai giống, bóc tách lớp màng trên bề mặt nhưng không được để hạt giống bị nát. Trong quá trình cấy, chai giống luôn để nằm ngang. Cấy xong đậy nút bông, vận chuyển túi vào khu vực ươm. Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ phòng cấy giống.


Ươm túi


Nhà ươm túi phải sạch sẽ, thông thoáng, độ ẩm 75 - 85%, ánh sáng yếu, nhiệt độ 20 - 300C.


Chuyển túi vào nhà ươm, đặt trên các giàn giá hoặc xếp thành luống. Khoảng cách giữa các túi là 2 - 3cm. Giữa các giàn luống có lối đi để kiểm tra. Trong thời gian ươm không được tưới nước, hạn chế vận chuyển. Trong quá trình sợi nấm phát triển nếu thấy có túi bị nhiễm khuẩn phải loại bỏ ngay, đồng thời tìm nguyên nhân khắc phục.


Chăm sóc, thu hái


Nhà trồng nấm phải sạch sẽ, thông thoáng, có mái chống mưa dột. Nhiệt độ thích hợp 22 - 28 độ C; độ ẩm không khí 80-90%; ánh sáng khuếch tán và chiếu đều từ mọi phía; kín gió; có hệ thống giàn giá để tăng diện tích sử dụng.


Thu hái theo 2 phương pháp:


Phương pháp không phủ đất


Cấy giống được 25 - 30 ngày thì rạch 2 vết sâu 0,2 - 0,5cm đối xứng trên bề mặt túi. Đặt túi trên giàn cách nhau 2 - 3cm. 7 - 10 ngày đầu chủ yếu tưới nước trên nền nhà, đảm bảo độ ẩm 80-90%, thông thoáng vừa phải.


Khi nấm bắt đầu mọc ra từ các vết rạch hoặc qua nút bông thì ngoài việc tạo ẩm không khí có thể tưới phun sương nhẹ vào túi nấm mỗi ngày 1-3 lần. Duy trì chế độ chăm sóc này đến khi viền trắng trên vành mũ quả thể không còn.


Thu hái:


Dùng dao hoặc kéo sắc cắt chân nấm sát bề mặt túi; quả thể sau khi thu hái được vệ sinh sạch sẽ, phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ 40 - 45 độ C; độ ẩm của nấm khô dưới 13%, tỷ lệ khoảng 3kg tươi được 1kg khô; thu hái hết đợt 1 tiến hành chăm sóc như ban đầu để tận thu đợt 2. Kết thúc đợt nuôi trồng phải vệ sinh và thanh trùng nhà xưởng bằng foócmôn với nồng độ 0,5 - 1%.


Phương pháp phủ đất


Cách phủ đất: Khi sợi nấm đã ăn kín khoảng túi, gỡ bỏ nút bông, mở miệng túi, phủ lên trên bề mặt một lớp đất dày 2 - 3cm.


Chăm sóc: Nếu đất phủ khô phải tưới phun sương để đất ẩm trở lại. Tuyệt đối không tưới nhiều làm ảnh hưởng đến quá trình hình thành quả thể. Trong 7-10 ngày đầu (kể từ lúc phủ đất) cần duy trì độ ẩm 80 - 90%. Khi quả thể bắt đầu hình thành cần duy trì độ ẩm liên tục cho đến thời điểm thu hái. Thời gian từ khi nấm lên đến lúc thu hoạch kéo dài khoảng 65 - 70 ngày.


Đơn vị, cá nhân có nhu cầu mua meo giống nấm Linh Chi có thể liên hệ: Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật, Viện Di truyền nông nghiệp, đường Phạm Văn Đồng, Từ Liêm, Hà Nội.

Kinh tế nông thôn

(2009-01-05)
 

Kinh nghiệm diệt trừ ốc sên hại thanh long

Email In PDF.
Kinh nghiệm diệt trừ ốc sên hại thanh long

Ốc sên (ốc ma) và sên dẹp (sên nhớt, sên trần, đỉa đất, con bà chằng) phát triển mạnh trong mùa mưa và ở những nơi có độ ẩm cao. Ban ngày chúng trú ẩn ở nơi ẩm, mát, dưới lớp rơm phủ; ban đêm bò ra và ăn phá phần non của cành, nụ, hoa, trái thanh long. Xin giới thiệu kinh nghiệm diệt trừ ốc sên của một số nhà vườn ở tỉnh Bình Thuận để bà con tham khảo:


Kinh nghiệm của bà Tô Thị Liên ở thôn 3, xã Hàm Liêm (Hàm Thuận Bắc): Dùng nguyên bông thanh long (đã lặt bỏ) chấm thuốc Yellow -K hay Deadline Bullets (Công ty TNHH Map Pacific Việt Nam sản xuất) hoặc dùng trái thanh long (non hoặc chín loại bỏ) cắt thành lát cỡ 1cm chấm loại thuốc trên đặt dưới những gốc thanh long có nhiều sên, ốc hay tập trung cắn phá.


Kinh nghiệm của ông Tạ Văn Quyền ở thôn Văn Hòa, xã Hàm Thạnh (Hàm Thuận Nam): Khi phát hiện thấy trụ thanh long bị ốc sên cắn phá cành non, trái non thì dùng thuốc Bolis 6B (Công ty TNHH ADC) rải một vạt dưới gốc, ốc sên ngửi mùi sẽ tập trung đến ăn và chết tại chỗ.


Kinh nghiệm của ông Lê Quang Thu ở thôn Ba Bàu, xã Hàm Thạnh: Trụ nào có ốc sên cắn phá thì dùng thuốc OSBUVANG 800 WP (AHP Pesticide Co. Ltd), liều lượng 100g pha trong bình xịt 16lít, phun đều thành một vòng bao quanh gốc thanh long. Buổi tối, ốc sên bò đi ăn sẽ bị trúng thuốc.

Kinh tế nông thôn
(2009-01-05)

 

Cách giữ ấm cho mạ xuân

Email In PDF.

Cách giữ ấm cho mạ xuân

Hạ tuần tháng 12/2008 đến thượng tuần tháng 1/2009 theo dự báo của cơ quan khí tượng thuỷ văn Trung ương sẽ có vài đợt gió mùa đông bắc mạnh tràn về gây rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc nước ta. Đặc biệt ở các tỉnh vùng núi cao có thể có sương muối, tuyết rơi làm ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của mạ xuân.

Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc, giữ ấm cho mạ xuân khi gặp thời tiết rét đậm, rét hại (nhiệt độ trung bình ngày dưới 13oC) kéo dài.


Mạ xuân sớm gieo 20-30/11 đã có 3-4 lá thật, cần giữ ẩm tốt cho mạ, bón thêm tro rơm, rạ với lượng 5kg/sào Bắc bộ mạ, không bón tro của các loại lá cây nhiều tinh dầu như lá bạch đàn vì chúng sẽ làm mạ bị chết sót. Phun cho mạ một trong các sản phẩm: Vườn sinh thái; K-Humate; A-H502/503; N-H601/602; K-H701/702 khoảng 2 lần mỗi lần cách nhau 5-7 ngày giúp mạ tăng sức đề kháng chống rét tốt hơn.


Những nơi chủ động nước tưới có thể đêm cho ngập 1/2 cây mạ, ngày lại tháo nước cạn để lợi dụng được hơi ấm của ánh nắng mặt trời ban ngày và lòng đất ban đêm sưởi ấm cho mạ.


Mạ xuân chính vụ gieo 1/12 đến 15/12, hiện nay đang có 1-3 lá thật, trà mạ này cần cung cấp đủ ẩm cho dược mạ với độ ẩm bão hoà (mực nước trong rãnh mạ cách mặt luống 1-2 cm). Trùm nilon màu trắng, trong, dai lên khung tre hình vòm cống chống rét cho mạ. Ban ngày khi nhiệt độ ngoài trời >20oC cần mở hai đầu nilon luống mạ cho thoát hơi nước, hạ nhiệt độ tránh hiện tượng mạ sinh trưởng mạnh nhanh bị già. Nhiệt độ trung bình ngày >13oC cần bỏ hết nilon che trên luống mạ, giúp mạ tôi luyện với rét (được giá) cứng cây, đanh dảnh là tiền đề cho việc tăng năng suất lúa cuối vụ.


Phun cho mạ xuân chính vụ một trong các sản phẩm Vườn sinh thái; K-Humate; A-H502/503; N-H601/602; K-H701/702 khoảng 2 lần mỗi lần cách nhau 5-7 ngày giúp mạ tăng sức đề kháng chống rét tốt hơn.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-03)

 

Cách tăng tỷ lệ nảy mầm cho thóc giống

Email In PDF.

Cách tăng tỷ lệ nảy mầm cho thóc giống

Xin hướng dẫn bà con cách tăng tỷ lệ nảy mầm cho thóc giống.


1. Ngâm đủ nước: Thời gian ngâm nước thông thường đối với các loại giống lúa thuần ở các tỉnh phía Bắc trong vụ xuân là 3 ngày + 3 đêm (khoảng 72 giờ đồng hồ), các giống lúa lai là 36-48 giờ (tính cả thời gian xử lý khử trùng thuốc). Biểu hiện của thóc giống no nước là, ngoại hình hạt căng đều, nhìn rõ thấy phôi màu trắng ở đầu hạt. Khi cắn nội nhũ (phần gạo ở giữa hạt) thấy bở mềm, hơi cứng ở lõi là đạt yêu cầu.


Trong thời gian ngâm nước cứ 12 giờ cần vo sạch thay nước mới một lần. Được cung cấp đủ nước trong quá trình ủ không cần dấp thêm nước mà hạt giống vẫn nhanh nảy mầm và nảy mầm đều.


2. Ủ ấm đủ nhiệt độ: Nhiệt độ nảy mầm thích hợp với thóc giống là 28-32oC. Trong vụ đông xuân ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày nhiệt độ hạ thấp dưới 15oC, nếu không ủ ấm tốt hạt giống rất lâu nảy mầm và nảy mầm không đều.


Kinh nghiệm ủ hạt giống trong những ngày giá rét là vùi sâu trong đống rơm, rạ hoặc vùi trong đống lá, cỏ còn tươi sẽ có nhiệt độ cao hơn. Sau khi vùi thóc giống khoảng 36-48 giờ cần bới ra xem đã nảy mầm chưa, khi thấy trên 50% số hạt nứt nanh gai dứa, lấy thóc ra trộn kỹ cho các hạt giống nảy mầm đều sau đó vùi nông hơn trong rơm rạ vì khi thóc nảy mầm sẽ tự sinh nhiệt làm ấm lên.


Tuyệt đối không vùi thóc giống no nước trong đống tro bếp, vì tro bếp khi đun nấu sẽ nóng quá, không đun lại lạnh, mặt khác tro bếp rất khô sẽ hút nước trong hạt giống làm hạt giống thiếu nước ảnh hưởng tới quá trình nảy mầm. Cũng không nên vùi thóc giống vào sâu trong đống phân ủ vì trong đống phân ủ nhiệt độ thường quá cao lại có nhiều khí độc ảnh hưởng tới sự nảy mầm của hạt giống.


3. Xử lý một số sản phẩm làm tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt giống: Dùng một trong các sản phẩm sau: Vườn sinh thái; K-Humate; A-H502/503: N-H601/602; K-H701/702... Cách dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Các sản phẩm này trong thành phần có các nguyên tố vi lượng, các acide humic hữu cơ, acide amin, vitamin, vi sinh vật hữu ích… tác dụng kích thích làm tăng sức nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm của hạt giống, tăng khả năng chống chịu rét và sâu bệnh hại cho mạ.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-03)

 

Chằng phày - một loài tre đa dụng

Email In PDF.

Ngoài giống bưởi đường Phúc Trạch ngon nổi tiếng, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh còn có một loài tre đa dụng được trồng nhiều mà không địa phương nào thấy có, đó là cây chằng phày.

Cũng giống như cây tầm vông ở Nam bộ, chằng phày (Bambusa regia) là một loài trong phân họ tre (Bambusoideae) thuộc họ hòa thảo (Poaceae) được trồng khắp nơi, đi đâu cũng bắt gặp như một nét đẹp của quê hương. Thân cây trưởng thành mọc thẳng, cao từ 7 đến 15m, đường kính từ 2-7cm, gần như đặc ruột và rất cứng, không gai. Lá kép nhỏ, dài 5-12cm, rộng 1-2cm. Đây là loài tre có khả năng chịu khô hạn rất cao, có thể sinh trưởng tốt ở điều kiện giáng thủy dưới 1.000mm/năm. Chằng phày không kén đất, có thể trồng được trên mọi loại đất, mọi nơi từ đất tốt màu mỡ trong vườn, ngoài bãi, ven sông, ven suối, đường làng, ngõ xóm cho tới những nơi đất xấu, hoang hóa, bạc màu luôn thiếu nước như bìa rừng, chân đồi…


Chằng phày có nhiều công dụng: Do thân thẳng, ruột dày, cứng và dẻo nên thân cây được bà con vạn chài ưa chuộng tìm mua dùng làm sào chống thuyền; làm các đồ gia dụng như bàn ghế, nhà cửa, đặc biệt hiện nay là nguồn nguyên liệu cho sản xuất mành, chiếu, đồ thủ công mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu rất có giá trị đem lại lợi nhuận cao cho cả người trồng lẫn các ngành khác. Măng chằng phày ruột đặc, mềm, ít xơ, ăn ngon, ngọt và giòn đã trở thành những món ăn đặc sản của địa phương và khách du lịch. Măng chằng phày có thể dùng để ăn tươi, sấy khô, muối chua hoặc làm nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến thực phẩm sản xuất ra nhiều mặt hàng đồ hộp phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu có giá trị như măng sợi, măng củ, măng thái lát v.v…


Bẹ cây măng chằng phày rất mỏng, trơn bóng và không có lông nên được bà con chằm nón ưa chuộng tìm mua để tạo nên những chiếc nón bài thơ vừa nhẹ, vừa đẹp lại vừa bền làm quà cho khách du lịch bốn phương. Nói về hiệu quả kinh tế, ông Nguyễn Văn Loan, một cựu chiến binh ở xóm Bắc Lĩnh, xã Hương Trạch, huyện Hương Khê cho hay, chằng phày là loài cây rất dễ trồng, đầu tư thấp, ít phải tốn công chăm sóc nhưng cho lợi nhuận cao. Trồng 1 ha chằng phày từ 3-5 tuổi, mỗi năm cho thu hoạch từ 7 đến 10 ngàn cây, bán với giá bình quân 10 ngàn đồng/cây, thu 60-70 triệu đồng/ha. Tuy hiện nay chưa có nhiều diện tích trồng tập trung nhưng nếu quy từ cây phân tán của các hộ gia đình trong toàn huyện có thể lên tới hàng trăm hécta, mỗi năm đưa về nguồn thu cho Hương Khê hàng tỷ đồng từ loài tre đa dụng này.


Theo kinh nghiệm của ông Loan, muốn trồng chằng phày tốt nên chọn những nơi ít dốc, độ mùn cao ven các con suối, chân đồi có đủ độ ẩm, thoát nước tốt, phát sạch thực bì, cỏ dại và hố với kích thước 40 x 40 x 60cm, khoảng cách 5m x 5m (400cây/ha). Những nơi đất xấu nên bón thêm phân hữu cơ, phân rác và một ít lân rồi lấp đầy hố trước khi trồng 20 ngày. Có thể trồng trực tiếp bằng các đoạn thân ngầm dài 45-50cm sau khi đã được hỗ rễ (ngâm trong hỗn hợp bùn + phân supe lân 1-2 ngày nhằm kích thích nhanh ra rễ) hoặc chiết cành rồi đem giâm cho ra rễ trước khi trồng sẽ cho tỷ lệ sống cao. Thời vụ trồng chằng phày tốt nhất là vụ xuân (tháng 2-3) để tận dụng mưa xuân và vụ thu (tháng 8-10) nếu chủ động được nguồn giống. Kinh nghiệm của nông dân Hương Xuân là dùng rơm, rạ, cỏ khô hoặc nilon bọc phía trên để hạn chế hom mất nước, tỷ lệ cây sống cao.


Những nơi có điều kiện có thể trồng xen với các cây trồng khác như lúa nương, ngô, đậu, chuối, đu đủ trong thời gian đầu khi chằng phày chưa khép tán vừa tăng thêm thu nhập, vừa giữ ẩm, chống xói mòn cho đất và che bóng cho cây lúc mới trồng. Thường xuyên làm sạch cỏ xung quanh gốc, xới xáo, vun thêm đất mùn trong 3 năm đầu cho chằng phày sinh trưởng, phát triển tốt. Chặt bỏ cây dại, cây leo, tỉa bỏ cành, cây nhỏ ở gốc cho thông thoáng. Sau 3 năm trồng bắt đầu cho thu hoạch bằng cách chặt tỉa các cây có 3 năm tuổi trở lên, số lượng cây chặt không quá 1.200-1.500 cây/ha. Nên thu hoạch vào những tháng khô ráo (cuối mùa mưa, đầu mùa khô), không thu cây vào những tháng mùa mưa hoặc trong thời kỳ chằng phày đang mọc và nuôi măng dễ phát sinh bệnh thối măng, thối gốc. Chú ý chặt sát gốc, chặt xong vệ sinh gốc và vườn sạch sẽ, bón bổ sung thêm 5-10kg phân chuồng + 0,5-1kg phân lân cho mỗi bụi/năm làm cho chằng phày bền gốc, đẻ nhiều măng.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-03)

 
Trang 274 trong tổng số 331

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video