Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Trà Vinh: Câu lạc bộ nuôi tôm cộng đồng ở Hiệp Mỹ Đông

Email In PDF.

Mùa tôm sú chính vụ 2008 ở các huyện ven biển như Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành đã kết thúc. Trong khi nhiều địa phương có nhiều hộ nuôi tôm thua lỗ thì tại câu lạc bộ nuôi tôm cộng đồng ấp Cái Già, xã Hiệp Mỹ Đông, huyện Cầu Ngang có đến 90% hộ nuôi có lãi. Bài học đồng lòng, đồng tâm, đồng trách nhiệm, đồng lợi ích kinh tế chính là bí quyết mang lại thành công cho mỗi thành viên trong câu lạc bộ.

Đọc thêm...
 

Làm vườn với bộ quần áo robot

Email In PDF.

Các chuyên gia khoa kỹ thuật - nông nghiệp Đại học Tokyo (Nhật Bản) vừa phát minh bộ quần áo robot giúp người làm vườn đào đất và nhổ cỏ dại nhẹ nhàng hơn.

Trang phục robot nặng gần 25 kg này sử dụng 8 động cơ và 16 bộ cảm biến. Các nhà phát minh tin rằng bộ đồ này đặc biệt thích hợp với những nhà nông cao tuổi, chân tay yếu vì nó không tạo thêm sức nặng cho người mang. Một thành viên trong nhóm đã mặc thử trang phục này rồi cúi xuống nhổ củ cải (ảnh) và với lên hái cam. Giá một bộ trang phục này khá đắt, dự kiến khoảng 50.000-100.000 yen (92 -184 triệu đồng).

Báo Cần Thơ
(2009-01-20)

 

Hoa Đồng Chè rực rỡ đón xuân

Email In PDF.

Đồng Chè (thị trấn Trới) là “vựa” hoa lớn nhất của huyện Hoành Bồ, nơi mà nhiều hộ dân sống bằng nghề trồng hoa đang mong ước xây dựng ở đây thành trung tâm trồng hoa, đồng thời thành điểm du lịch hoa hấp dẫn của tỉnh.

Nghề trồng hoa có mặt ở đây từ hơn 30 năm, do những nông dân TP Hải Phòng đi xây dựng kinh tế mới mang theo. Tuy nhiên, đến tận bây giờ, nhiều người dân trong tỉnh mới biết nhiều đến làng hoa này, bởi nơi đây ngày càng có nhiều sản phẩm hoa cao cấp phục vụ thị trường. Đời sống người nông dân chuyên canh hoa ngày càng ấm no, từ khi đưa một số giống hoa cao cấp vào canh tác, đặc biệt là hoa ly (năm 2004). Theo tính toán của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hoành Bồ, nếu canh tác hoa ly ly đúng mật độ, với giá bán từ 30-40 ngàn đồng/cây, sẽ cho lãi  khoảng 1,5 tỷ đồng/ha, thậm chí tới gần 2 tỷ đồng/ ha. Đây là mức doanh thu đã được kiểm chứng qua 4 vụ hoa vừa qua.

Có mặt ở làng hoa vào một buổi chiều ngày ông Công ông Táo năm nay, dưới ánh nắng cuối chiều Đông vàng ruộm, cả đồng hoa rực rỡ khoe sắc thắm. Trên đường, nhiều ô tô, xe máy ra vào  như  mắc  cửi . Người đi ngắm hoa, người đi buôn khiến làng hoa rộn rã khác hẳn ngày thường. Ông Khổng Minh Thành, Bí thư Đảng uỷ thị trấn Trới cho biết: năm nay thời tiết cơ bản thuận lợi nên hoa nở đúng dịp tết. Đây là một trong những điều kiện cơ bản để giá hoa giữ được mức cao. Giá hoa ly bán lẻ từ 45-50ngàn đồng/cây; bán buôn là 40 ngàn đồng/cây. Hơn thế nữa, huyện Hoành Bồ đang xây dựng đề án để phát triển những làng hoa nơi đây thành điểm du lịch.


Trong nắng chiều cuối Đông, cả làng hoa rực rỡ khoe sắc thắm như đang báo hiệu mùa xuân- sự ấm no đang ùa về nơi đây...

Báo Quảng Ninh
(2009-01-20)

 

Mây núi Tà Long

Email In PDF.

Nhiều người nói vui với tôi rằng, nếu những cơn mưa rừng còn kéo dài thì thật khó tìm ra được xã Tà Long vì mây và sương núi đã phủ kín bản làng.

Quả thật đã hơn 8 giờ sáng mà Tà Long vẫn mịt mù trong sương khói. Những chiếc xe chạy ngược chiều với chúng tôi phải bật đèn và chạy một cách từ tốn mới khỏi đụng vào nhau. Nhưng rồi những bản làng Tà Long đã hiện ra trước mắt với tất cả sự uể oải trong những ngày rét giá.

Biết tôi có ý định đi vào bản Ba Hy, Chủ tịch UBND xã Hồ Văn Côi thành thực khuyên rằng, mưa gió này không thể đi được đâu vì cống Tà Lao đã hư hỏng, nước suối đang dâng cao đi vào đó nguy hiểm lắm. 

Nhiều tháng nay việc đi lại giữa Ba Hy, Tà Lao với bên ngoài bị gián đoạn, có việc gì cần lắm bà con mới lội suối băng đèo ra xã, các phương tiện đi lại đều không thể sử dụng được vì giao thông trắc trở.

Tà Long là một xã có diện tích tự nhiên khá rộng, địa hình phức tạp, các thôn bản phân bố rải rác trong các triền núi, xã có 9 thôn thì có đến 7 thôn nằm kẹp giữa bốn bề rừng già và núi đá.

Đất đai ở Tà Long nhiều nhưng đất để sản xuất thì không có do hai dự án rừng phòng hộ và Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông đè lên gần như toàn bộ diện tích. 

Từ bao đời nay ngư
ời Vân Kiều, PaCô Tà Long sống nhờ vào rừng núi nhưng giờ đây, rừng núi không thuộc quyền quản lý của họ nữa mà muốn sản xuất, muốn có đất canh tác phải xin các dự án." Không ít người vì bức xúc cuộc sống đã phải lén vào những vùng rừng sâu phát rẫy trỉa lúa, chính quyền địa phương hết sức ngăn cản nhưng sau mỗi đợt ngăn chặn thì đâu lại hoàn đấy, người dân thiếu cái ăn xã có lo được cho họ đâu", một cán bộ địa phương tâm sự chân thành.

Theo điều t
ra của địa phương, hiện tại Tà Long có 489 hộ, 2782 khẩu (trong đó 87% là hộ đồng bào Vân Kiều) thì có đến 332 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 71,39%, cái đói cái nghèo của Tà Long cũng luẩn quẩn trong vòng vây của sự thiếu đất canh tác, thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất.

Là một xã miền núi có diện tích tự nhiên khá lớn nhưng có một thực tế đang tồn tại là người dân Tà Long đang thiếu đất để sản xuất, lương thực bình quân đầu người ở Tà Long thuộc diện thấp nhất nước, 128 kg/đầu người/năm. 

Nguồn sống duy nhất của cả xã chỉ trong chờ vào hơn 60 ha lúa nước, sản lượng hàng năm trên 190 tấn. Để duy trì cuộc sống, người dân Tà Long chủ yếu dựa vào rừng, săn bắt động vật, khai thác lâm sản, khai thác phế liệu chiến tranh. 

“Những năm trước đây sản vật trong rừng, phế liệu chiến tranh còn dồi dào, mỗi ngày mang gùi vào rừng là có cái mang về, còn hiện nay khi các nguồn tự nhiên đã cạn kiệt thì tất cả chỉ mong chờ vào may rủi, ngày có ngày không, có khi đi suốt ngày đến mệt lả mà vẫn chưa tìm được một vật gì đáng giá”, anh Hồ Văn Lúi ở thôn Sa Ta tâm sự với chúng tôi. 

Có thể nói, chưa bao giờ cuộc sống của người dân Tà Long khó khăn như lúc này, khi những đợt mưa rét kéo dài hàng tháng trời và nguồn sống chủ yếu của họ lại dựa vào rừng núi. 

Trả lời câu hỏi của chúng tôi vì sao không khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi để cải thiện đời sống, ông Hồ Văn Côi, Chủ tịch xã nói rằng: Sinh sống trên một địa bàn rừng núi nhưng Tà Long chỉ có rừng già, núi đá, đồng cỏ không có do đó dù cố gắng tối đa vẫn không phát triển được đàn gia súc.Chúng tôi đã động viên bà con nuôi bò để khắc phục tình trạng này nhưng đất để trồng cây lương thực vốn đã hạn chế, bà con chỉ dành để trồng ngô, trồng sắn, lấy đâu ra đất để trồng cỏ nuôi bò, vì vậy mọi sự vận động đều không đạt được kết quả. Đó là chưa nói do phương thức chăn nuôi thả rông còn phổ biến nên đã ảnh hưởng rất lớn đến trồng trọt, đã xuất hiện một số vụ bắt bò, chém trâu vào phá hoại nương rẫy gây nên tình trạng bất ổn về an ninh trật tự trên địa bàn.


Để giúp người dân Tà Long cải thiện cuộc sống, nâng cao năng lực xoá đói giảm nghèo, những năm qua, nhiều chương trình, dự án đã đầu tư vào đây với số vốn hàng tỷ đồng. 

Nhưng nhìn chung đây vẫn chỉ là những giải pháp tình thế để giúp người dân có đường giao thông, phá thế bị bao vây hàng bao đời nay giữa núi rừng, có được những công trình nước sinh hoạt, trường học, trạm xá tại những địa bàn xưa nay chưa bao giờ tiếp cận với đời sống văn minh.

Điều đáng nói là với đồng vốn eo hẹp, lại đầu tư dàn trải nên nhiều công trình xây dựng ở đây chưa phát huy được hiệu quả hoặc có tuổi thọ rất ngắn. Vẫn còn nhiều thôn bản chưa có điện, chưa có hệ thống cung cấp nước sinh hoạt người dân phải dùng nước suối như ở A Du, Ba Ngày.

Nhiều tuyến đường liên thôn vừa mới thông tuyến, chưa được kiên cố hoá do đó rất khó khăn trong việc đi lại của người dân, nhất là những ngày mưa lũ như ở Tà Lao, Ba Hy.

Xã đã có trạm y tế nhưng do xây dựng quá lâu nay đã xuống cấp, diện tích lại chật hẹp, các trang thiết bị bên trong quá thiếu thốn nên rất khó khăn trong việc chăm lo sức khoẻ cho người dân. 

Vấn đề đầu tư khai hoang đất bằng làm ruộng nước, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nâng cao đời sống của người dân cũng chưa thật sự được quan tâm.

Hiện nay trên địa bàn Tà Long nói riêng, miền núi nói chung những vùng đất bằng rộng lớn đã không còn, do đó chỉ còn cách hỗ trợ người dân đầu tư xây dựng hệ thống ống dẫn để đưa nước vào khai phá những vùng đất cao để làm ruộng bậc thang là hiệu quả hơn cả, và khi đã có đất, có ruộng nước thì cuộc sống người dân nơi đây mới ổn định một cách bền vững.

Có một điều cũng cần phải đề cập ở đây là những năm qua dù đã có nhiều chuyển biến nhưng tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước vẫn đang tồn tại khá nặng nề trong đội ngũ cán bộ và người dân địa phương. 

Theo chúng tôi được biết, việc xây dựng các công trình phục vụ dân sinh trên địa bàn đã có cam kết phối hợp giữa Nhà nước, các dự án với cộng đồng, nhưng khi các công trình xây dựng xong bàn giao cho người dân sử dụng thì vai trò của cộng đồng rất mờ nhạt, không ít người dân thiếu ý thức bảo vệ nên công trình mau chóng xuống cấp hư hỏng, và khi đã hư hỏng thì không quan tâm khắc phục sửa chữa kịp thời dẫn đến hoàn toàn không sử dụng được, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của cả cộng đồng.

Dù đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của những thanh niên ở bản Tà Lao nhưng tôi vẫn không thể đi được đến Ba Hy, Ba Ngày và những thôn bản khác của Tà Long, những cơn mưa rừng như trút đã níu giữ chân tôi tìm đến những bản làng.

Đêm ở miền Tây đặc quánh trong cái gió, cái rét và những làn mưa mù mịt. Nhấp chén rượu bản thơm lừng được cất từ thứ gạo nếp than trồng trên những triền dốc cao, tôi miên man nghĩ về một tương lai thoát nghèo của Tà Long.

Nếu như trồng lúa, trồng ngô, nếu như chỉ mong vào sự san sẻ của các dự án bảo tồn, dự án rừng phòng hộ để người dân có đất trồng rừng thì có thể Tà Long sẽ bớt nghèo nhưng để làm giàu thì không thể.

Với Tà Long nói riêng,  vùng miền núi khó khăn tỉnh Quảng Trị nói chung tại sao không có một dự án dài hơi hơn, không cần phải phát rừng để tìm đất sản xuất mà giao rừng cho người dân quản lý, giao rừng cho người dân giữ và giúp họ tổ chức hoạt động du lịch sinh thái để có cuộc sống tốt hơn, ổn định hơn. 

Tôi được biết ở Tây Nguyên, ở đồng bằng sông Cửu Long người dân, trong đó có rất nhiều người dân tộc thiểu số đã rất thành công trong việc tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái, du lịch khám phá cộng đồng. Với phong cảnh núi rừng hoang sơ cùng những món ăn độc đáo, thứ rượu nếp đặc sản của miền Tây đủ sức hấp dẫn du khách, chỉ thiếu một điều ai sẽ là người tổ chức và giúp đỡ họ nếu không phải là các nhà quản lý và các doanh nghiệp?

Báo Quảng Trị
(2009-01-20)

 

Gio Linh mở rộng diện tích cánh đồng có hiệu quả kinh tế cao

Email In PDF.

Huyện Gio Linh có 21 xã, thị trấn, được chia thành 3 tiểu vùng rõ rệt là: vùng gò đồi miền núi, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển. Nhờ tập trung đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp nên nhiều năm liền Gio Linh là huyện được mùa khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 9,95%, năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng không ngừng tăng lên.

Chủ trương "dồn điền đổi thửa" đã tập trung được ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất cho các hộ gia đình, tạo điều kiện để thâm canh và cơ giới hóa, quy hoạch vùng phát triển nông nghiệp theo công thức cho từng mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Đến nay, trên địa bàn huyện đã xây dựng được nhiều mô hình có giá trị kinh tế cao trên một đơn vị diện tích như mô hình lúa- cá tại các xã Gio Mai, Gio Mỹ... với diện tích 75,6 ha, doanh thu 70 triệu đồng/ha, lợi nhuận 28 triệu đồng/ha; mô hình lạc đông xuân- dưa hè thu ở vùng cát xã Gio Mỹ với diện tích 17,8 ha, doanh thu 55 triệu đồng/ha, lợi nhuận 19 triệu đồng/ha; mô hình chuyên cá với tổng diện tích 326 ha, doanh thu 75 triệu đồng/ha, lợi nhuận 28 triệu đồng/ha; mô hình mướp đắng- sule với tổng diện tích 25 ha ở thôn Lan Đình, mô hình dưa hấu xen sắn KM94 với diện tích 20 ha tại thôn Lễ Môn, xã Gio Phong... 

Nhiều hộ gia đình nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, biết tổ chức sản xuất có hiệu quả đối với các cây, con mới đã tự trang bị thiết bị máy móc đưa vào sản xuất như: máy sạ hàng, máy gặt đập liên hợp, máy nghiền thức ăn gia súc; chế biến sau thu hoạch như: máy đánh bóng gạo tại xã Gio Quang, máy sấy thủy sản tại các xã Trung Giang, Gio Việt, thị trấn Cửa Việt...


Trên cơ sở hiện trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi trong nông nghiệp thời gian vừa qua, huyện Gio Linh đã đề ra những chủ trương, chính sách khuyến khích, hỗ trợ, quy hoạch phát triển sản xuất cho từng vùng, miền; đưa ra những công thức cụ thể để chuyển giao công nghệ, tập huấn cho nông dân xây dựng mô hình, thành lập trang trại, cải tạo đồng ruộng và tổ chức các dịch vụ khuyến nông nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế cao, tạo ra những cánh đồng có quy mô sản xuất tập trung, chuyên canh, có khối lượng hàng hóa lớn, chất lượng cao, gắn với sản xuất thị trường.

UBND huyện đã đề ra chủ trương khuyến khích nông dân mở rộng các mô hình từ năm 2009-2012 như hỗ trợ 4 triệu đồng/ha cho mô hình lúa- cá hoặc chuyên canh cá; hỗ trợ 4 triệu đồng/ha cho mô hình lạc đông xuân- dưa hè thu; hỗ trợ 2 triệu đồng/ha cho mô hình lúa chất lượng cao.

Bên cạnh đó, huyện còn hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho các hộ thực hiện mô hình và tổ chức hội thảo nhân rộng mô hình có hiệu quả phù hợp cho vùng, miền... 

Ngoài kinh phí của huyện hỗ trợ, các cơ quan, đơn vị tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình có kế hoạch huy động sức mạnh tổng hợp trong nhân dân về vốn tự có, cơ sở vật chất, kỹ thuật, sức lao động... để phát triển sản xuất, phấn đấu đến năm 2012, toàn huyện có 4.160 ha có giá trị kinh tế cao.

Định hướng chương trình phát triển cánh đồng có hiệu quả kinh tế cao từ đây đến năm 2012, huyện Gio Linh tiếp tục đẩy mạnh áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và đưa các giống cây trồng, vật nuôi đã được khẳng định vào sản xuất, tăng hệ số sử dụng đất, khai thác tiềm năng đất đai, mặt nước nhằm tăng giá trị, hiệu quả trên một đơn vị diện tích.

Song song với việc chú trọng phát triển các cây trồng, vật nuôi mới có tiềm năng về năng suất và chất lượng để khảo nghiệm và nhân rộng trên địa bàn, huyện đã tiến hành quy hoạch vùng sản xuất lúa- cá với tổng diện tích khoảng 150 ha, chuyên cá với diện tích 370 ha dọc sông Cánh Hòm; vùng sản xuất lạc đôgn xuân- dưa hè thu trên vùng cát ở các xã Trung Giang, Gio Thành, Gio Hải, Gio Việt với tổng diện tích khoảng 70 ha; tiếp tục triển khai các mô hình mướp đắng- sule ở Gio Phong với tổng diện tích 40 ha...

Việc xây dựng và nhân rộng được các mô hình này sẽ là cơ sở để Gio Linh phát triển chương trình nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, nhân lên những cánh đồng có giá trị kinh tế cao, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết TƯ 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Báo Quảng Trị
(2009-01-20)

 

“Giấc mơ đà điểu” trên miền cát trắng

Email In PDF.

Trong lần về thăm quê ở vùng gió Lào, cát trắng một người con
Quảng Trị xa xứ đã không khỏi chạnh lòng khi thấy quê nhà chưa giàu có như những nơi khác. Quê nghèo đã thôi thúc ông phải làm một việc gì đó cho quê hương. Nghĩ là làm, sau khi tham quan một số nơi trong nước, sang tận Trung Quốc để học hỏi mô hình nuôi đà điểu của nông dân, ông đã gác lại công việc ở Tp Hồ Chí Minh để khăn gói quay về quê nhà mang theo một ấp ủ lớn: Nuôi đà điểu trên vùng cát, sau khi thành công sẽ nhân rộng mô hình đến từng hộ nông dân nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo.

“Giấc mơ đà điểu”

Ông là Lê Phước Bình, 52 tuổi quê gốc ở xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng nhưng được sinh ra và lớn lên ở miền Bắc khi cha của ông tập kết và lập gia đình ngoài đó. Năm 17 tuổi ông đi bộ đội đóng quân ở Cần Thơ, rồi tham gia các chiến dịch ở Campuchia. Ra quân, ông chuyển về công tác ở Công ty cao su Bình Long rồi vài năm sau ông ra riêng, lập công ty may ở Tp Hồ Chí Minh. Những năm tham gia trong quân ngũ đã tôi luyện cho ông một ý chí mạnh mẽ, táo bạo, bởi vậy đã ít nhiều mang lại cho ông sự thành công trong việc làm ăn.

Khi đã thành công, nghĩ lại những năm tháng lăn lộn nơi xứ người cũng chỉ mang lại sự sung túc cho gia đình, nhưng nơi quê nhà người nông dân vẫn lam lũ quanh năm mà cuộc sống vẫn còn khó khăn. Nhiều đêm thao thức suy nghĩ, ông quyết tâm phải làm một việc gì đó góp phần giúp người dân thoát nghèo. Ông bàn với vợ con phải về quê một chuyến.

Đứng trên dãi đất cát mênh mông đến nhức mắt, chốc chốc cơn gió khô hanh thổi qua những đụn cát bay, ông suy nghĩ lung lắm. Ông nhớ cách đây vài năm, có lần sang Trung Quốc giao dịch công việc, ông thấy ở đó người ta nuôi đà điểu rất tốt. Giống “chim châu Phi” này rất dễ nuôi và cho lợi nhuận cao, tiêu thụ thuận lợi và đặc biệt loài đà điểu có sức chống chịu cực kì tốt, phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng ở quê nhà. Rồi trong những lần tham quan tại các trại giống đà điểu trong nước như ở Tam Kỳ (Quảng Nam), Ba Vì (Hà Nội), càng thôi thúc ông về quê phát triển mô hình nuôi đà điểu. Ấp ủ là vậy nhưng công việc bận rộn khiến cho dự định của ông vẫn chưa thể thực hiện được.


Đầu năm 2008, trong một lần về thăm quê, ông quyết định sẽ thực hiện dự định ấp ủ bấy lâu của mình. Được vợ con ủng hộ, ông càng vững tin hơn.


Nhằm chuẩn bị cho công việc mới, ông tạm gác mọi việc làm ăn ở thành phố để dành thời gian miệt mài lao vào tìm hiểu, tham quan các mô hình nuôi đà điểu ở khắp nơi từ Nam chí Bắc rồi tìm mua các loại sách tham khảo về đà điểu để đọc. Hàng ngày ông mày mò lên mạng Internet tìm hiểu các thông số, sức chống chịu cũng như cách nuôi, chăm sóc đà điểu.

Khi đã tìm hiểu kỹ càng, đầu năm 2008 ông về Quảng Trị xin câp phép thành lập Công ty TNHH một thành viên Thịnh Phước Dynamic đóng trụ sở ngay tại vùng cát xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng để thực hiện dự án nuôi đà điểu. Ông cho biết, dự án của ông nếu thành công sẽ không chỉ dừng lại ở việc nuôi đà điểu lấy thịt mà còn cung cấp trứng, con giống cho toàn khu vực Bắc miền Trung, rồi tiếp tục nhân rộng mô hình này về cho từng hộ nông dân nuôi, đồng thời nhận bao tiêu sản phẩm cho họ.


Ông cũng dự định, nếu mọi việc suôn sẻ, sau ba năm ông sẽ tiếp tục xây dựng thêm nhà máy chế biến thức ăn cho đà điểu, khu sản xuất đồ mỹ nghệ, khu tham quan sinh thái trên diện tích 2 ha gần với khu du lịch sinh thái trằm Trà Lộc, nhằm kích thích phát triển cho vùng cát Hải Lăng. Mọi dự định tốt đẹp chỉ mới thực sự bắt đầu nhưng ông tin rằng dự án nuôi đà điểu - ước mơ của ông sẽ sớm thành công.

Hồi sinh một vùng đất

Vào tháng 10-2008, sau khi được tỉnh đồng ý phê duyệt dự án và cấp đất, ông đã đầu tư 23 tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng như chuồng trại, trụ sở công ty, trồng cỏ làm thức ăn trên diện tích ban đầu khoảng 10 ha tại vùng cát xã Hải Thượng. Sau đó ông vào tận Trung tâm giống đà điểu ở Tam Kỳ (Quảng Nam) chọn mua 40 con đà điểu giống khoảng 3 tháng tuổi (trọng lượng từ 18-20 kg, giá 1,2 triệu đồng/ con giống) về thả, sau Tết ông sẽ tiếp tục thả tiếp 360 con nữa. Tất cả sẽ bắt đầu từ 400 con đà điểu giống này.

Dẫn chúng tôi một vòng quanh trại nuôi, ông Bình cho biết dự định của ông là từ 400 con đà điểu này sau 18 tháng nuôi chúng sẽ thành đà điểu bố mẹ, sau đó từ số đà điểu bố mẹ này ông sẽ gây dựng đàn lớn hơn, mục tiêu của ông là sẽ nhân đàn lên ổn định ở mức 10.000 con trong vòng ba năm tới.


Qua một tháng thả nuôi, ông Bình phấn khởi cho biết, số đà điểu gốc châu Phi nhập “hộ khẩu” Quảng Trị này đã thích nghi và phát triển rất tốt. Chúng ăn rất tạp từ những thứ bèo, rau lang, rau muống... có sẵn tại địa phương và đặc biệt lớn rất nhanh, có những con đã đạt trọng lượng trên 30 kg. Sau 8 tháng nuôi, đà điểu đã có thể xuất chuồng và đạt trọng lượng tối đa 1,5 tạ, với giá bán khá cao trên thị trường hiện nay thì việc nuôi đà điểu có lợi nhuận hơn trâu, bò rất nhiều lần. Chính bởi vậy mà điều ông mong muốn nhất là khi thành công sẽ hỗ trợ và hướng dẫn cách nuôi cho người dân để góp phần xóa đói giảm nghèo.

Mỗi con đà điều nuôi đều được gắn mã số, hàng tuần những thông số về đà điểu do kỹ sư báo cáo đều được ông Bình cẩn thận lưu vào máy tính để theo dõi. Để tiện chăm sóc đà điểu, ông cho tuyển kỹ sư và 10 công nhân vào làm thường xuyên với lương khởi điểm khoảng 1,4 triệu đồng/ tháng/lao động. Ông Bình cho biết, mô hình trang trại nuôi sau khi xây dựng hoàn tất trên toàn bộ diện tích 15 ha sẽ tốn chi phí đến 47 tỷ đồng.

Hiện tại, nhằm tạo điều kiện để người dân sớm tiếp cận và làm quen với các sản phẩm từ đà điểu cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, ông đã mở đại lý bán lẻ thịt đà điểu (mỗi kg có giá 120.000-180.000 đồng) tại công ty và thị xã Đông Hà, sắp tới ông dự định sẽ mở rộng đại lý ra các tỉnh lân cận như Quảng Bình, Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, ông Bình cho biết, mục tiêu lớn nhất vẫn là dành chủ yếu các sản phẩm từ đa điểu để xuất khẩu.

Bây giờ, từ Quốc lộ 1A đi qua xã Hải Thượng rồi theo con đường nhựa dẫn về Trằm Trà Lộc, nhìn những những chú đà điểu hiền lành, lạ lẫm tung tẩy trong các ô nuôi và không khí làm việc khẩn trương của các công nhân ở đây, người ta dễ dàng nhận ra một luồng sinh khí mới được thổi vào từng ngày trên miền cát trắng. “Vùng đất chết” ngày nào dường như đã bắt đầu hồi sinh, sự hồi sinh mang lại sự tin tưởng và niềm hy vọng lớn lao: Hy vọng thành công của ông Bình và sự đổi đời của người dân vùng cát bao đời nghèo khó...

Báo Quảng Trị
(2009-01-20)

 

Trồng cam Canh, bưởi Diễn làm cảnh

Email In PDF.

Trồng cam Canh, bưởi Diễn làm cảnh

Tại Hội chợ Xuân Kỷ Sửu 2009 chuyên về các sản phẩm nông nghiệp đặc sắc của nhiều vùng miền đang diễn ra tại Thủ đô Hà Nội có một mặt hàng cây cảnh độc đáo được nhiều người ưa chuộng tìm mua, đó là các chậu cam Canh, bưởi Diễn đến từ các lang ven đô.

Nổi bật trên nền lá xanh, nhiều cây đang ra nụ và hoa trắng là những chùm cam Canh đỏ thắm sai lúc lỉu trông rất bắt mắt. Chen lẫn với những chậu cam Canh xứ Đoài là những chậu bưởi Diễn thân chỉ nhỉnh hơn cổ tay người lớn mà mang trên cành hơn chục quả chín vàng đang tỏa hương thơm man mác đặc trưng của giống bưởi đặc sản Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội.


Hỏi chuyện một bác đến từ phố Cầu Gỗ, quận Hoàn Kiếm vừa trả 1,6 triệu đồng cho chậu cam Canh sai gần trăm quả, bác vui vẻ cho biết: Năm nay do mưa nhiều, lũ to, nhiều vùng trồng đào, trồng quất bị ngập úng nên chết nhiều, giá lại đắt mà không đẹp nên tôi quyết định chơi hẳn một cây cam cảnh “nhất cử lưỡng tiện” vừa chơi vừa có quả “cây nhà lá vườn” để hái đãi bạn bè.


Các chậu cam Canh, bưởi Diễn có giá dao động từ 1,5 triệu đến 4 triệu đồng/cây tùy theo độ lớn, dáng đẹp, quả nhiều hay ít, đặc biệt có cây bưởi Diễn “tứ đại đồng đường”, vừa có lộc non, nụ, hoa, quả nhỏ và gần 2 chục quả chín đã được bán với giá 6 triệu đồng đang chờ bốc lên xe. “So với đào thế, quất cảnh thì hoàn toàn không đắt”, một khách hàng đến từ làng quất cảnh Văn Giang, Hưng Yên nói.


Chỉ mới sau 3 ngày khai mạc hội chợ mà anh Nguyễn Văn Bách ở thôn 9, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội đã bán được mấy chục cây thu về gần trăm triệu đồng phấn khởi cho biết: Trong vài năm gần đây xu thế chơi cây cảnh, đặc biệt là các giống cây ăn quả đặc sản được trồng làm cảnh như cam Canh, bưởi Diễn được nhiều người thích chơi nên tiêu thụ mạnh trong dịp Tết. Nhận thấy việc đưa cam Canh, bưởi Diễn vào chậu cảnh bán cho khách chơi cho thu nhập cao gấp 3-4 lần so với bán quả nên từ năm 2007 anh bắt đầu làm thêm nghề mới này. Trên diện tích 4 sào vườn nhà, anh trồng 200 gốc bưởi Diễn, 400 gốc cam Canh chuyên bán quả và cung cấp cây giống cho nhiều hộ gia đình trong xã và 200 chậu cam, bưởi cảnh để bán Tết. Năm ngoái do chưa có nhiều kinh nghiệm nên một số cây bị chết, số khác ra ít quả hoặc quả bị rụng nhiều sau khi vào chậu nên thực thu chỉ được trên chục triệu. Dự kiến năm nay chỉ riêng tiền bán cam, bưởi chậu sẽ đưa về cho gia đình anh nguồn thu vài trăm triệu đồng.


Theo anh Bách, việc trồng cam Canh, bưởi Diễn cảnh cũng giống như trồng lấy quả bình thường, chỉ khó là phải biết thời gian nào vào chậu là thích hợp và kỹ thuật vào chậu như thế nào cho cây không bị chột, không bị hó, rụng quả, chết. So với trồng cây lấy quả trên vườn thì trồng cây để vào chậu có thể trồng với mật độ dày hơn vì tán nhỏ, gọn. Bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh và chăm sóc bình thường cho đến khi cây ra hoa, đậu quả và nuôi quả lớn. Trước Tết khoảng 2 tháng rưỡi (từ đầu đến giữa tháng 10 âm lịch) dùng mai đào một rãnh rộng 20cm, sâu 35-40cm theo hình bán nguyệt cách gốc 25-30cm. Dùng đất bột, trộn đều với tro bếp và một ít phân supe lân lấp đầy rãnh.


Nhờ có tro bếp, phân lân mà cây được kích thích cho ra các rễ tơ mới từ những rễ bị cắt đứt để duy trì sự sống sau này. Một tháng sau (giữa tháng 11 âm lịch) đào nốt nửa bán nguyệt bên kia gốc cây và cũng dùng đất bột, tro bếp, phân lân lấp đầy hố, chăm sóc cho đến trước Tết khoảng 15 ngày thì dùng mai bẩy gốc lên cho vào chậu, chăm sóc cho cây hồi xanh rồi đem tiêu thụ. Để giữ cho cây không bị héo, không bị rụng quả nhằm trưng Tết, chú ý vận chuyển nhẹ nhàng, tránh làm lay gốc, vỡ bầu. Bố trí cây nơi khuất gió, thỉnh thoảng tưới nước đủ ẩm (khi thấy triệu chứng lá hơi bị lòng mo); không được tưới nhiều nước dễ làm cây bị sốc làm rụng lá, rụng hoa, rụng quả. Chơi Tết xong, đào hố sâu và to hơn chậu cây, cho nhiều phân hữu cơ, phân vi sinh, một ít phân lân trộn đều xuống hố rồi trồng lại, chăm sóc bình thường để lấy quả vào vụ tới.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-20)

 

Khôi phục giống gà Tiên YênVì đã nhận lời mời của cán bộ xã, nên hôm đó dù trời mưa, đoàn chúng tôi vẫn lên đường vào bản thăm các mô hình nuôi gà Tiên Yên của đồng bào dân tộc Dao tại ba thôn Khe Và - Pạc Sủi, Khe Muối và Nà Lộc, xã Yên Than. Cả đoàn gồm

Email In PDF.

Vì đã nhận lời mời của cán bộ xã, nên hôm đó dù trời mưa, đoàn chúng tôi vẫn lên đường vào bản thăm các mô hình nuôi gà Tiên Yên của đồng bào dân tộc Dao tại ba thôn Khe Và - Pạc Sủi, Khe Muối và Nà Lộc, xã Yên Than. Cả đoàn gồm có 8 người: Anh Lê Văn Thắng, Giám đốc Kho bạc; anh Tô Tiến Hùng, Phó Ban Chỉ đạo thường trực chương trình 135 của huyện; 1 cán bộ ban, 2 cán bộ xã, 2 trưởng thôn và tôi. Con đường đi thật là vất vả.


Lúc đầu chúng tôi đi mỗi người một  xe máy, cách thị trấn gần 2 cây số vì phải vượt qua sông nên chúng tôi phải gửi bớt xe lại, 2 người đi một xe. Đường rừng trời mưa trơn, một chân lúc nào cũng rê theo đường thế mà xe tôi vẫn bị  “xoè”  ra đường, áo ai cũng bị lấm lem. Chúng tôi tập trung tại nhà Quay Lềnh, Trưởng thôn Khe Và  - Pạc Sủi và là Bí thư chi bộ của 3 thôn, đi bộ đến các hộ được đầu tư chăn nuôi. 3 thôn có tổng số 329 hộ gia đình. Yên Than từ năm 2006 không còn là xã đặc biệt khó khăn của tỉnh, nhưng hiện tại vẫn còn 3 thôn nằm trong đối tượng 2. Sau hai năm hết nguồn vốn chương trình 135 dành cho xã, năm 2008 được đầu tư tiếp từ nguồn vốn chương trình này để hỗ trợ sản xuất. Xã đã  dành nguồn vốn này để  đầu tư cho 3 thôn khôi phục giống gà Tiên Yên. Xã đầu tư thí điểm cho 30 hộ. Các hộ được đầu tư vốn nuôi từ 100-150 con. Mặc dù trời mưa đường trơn, từ nhà nọ sang nhà kia cách nhau một hai quả đồi, nhưng đoàn chúng tôi ai cũng hăng hái đi. Các chủ hộ nuôi vui mừng báo cáo với đoàn kết quả đầu tư. Gà Tiên Yên không chỉ đẹp về màu lông, kiểu dáng, mà thịt  thơm, ngọt, da ròn, khi ăn không có cảm giác béo ngậy như giống gà khác. Đồng bào dân tộc thường nuôi gà thả đồi nhặt giun dế. Khi con gà đực đến tuổi thiến, sau 6 tháng đến một năm mới ăn thịt, trước khi ăn nhốt một tháng trên sàn không cho gà tiếp xúc với đất, cho gà ăn ngô, thóc luộc...


Trên đường đi đến các hộ, anh Hùng bảo tôi: “Đời sống của bà con đơn giản lắm em ạ. Nhà cửa chẳng tài sản nào có giá đến 1 triệu đồng, thậm chí người già và trẻ em áo ấm cũng chưa đủ mặc. Bình quân một thôn có 80 hộ vốn đầu tư mới được 10 hộ/thôn và chỉ có một số nhà có cuộc sống khá giả.

Thế nên các hộ được đầu tư có gần 3 triệu đồng, nhưng đến nay đàn gà đã có thể bán được khoảng từ 13 đến 15 triệu đồng. Cái thuận lợi cho xã đầu tư vào mô hình nuôi gà Tiên Yên ở các thôn là toàn bộ giống gà tự bà con đã gây được, thôn ít người qua lại, hàng ngày chỉ có các cô giáo vào bản dạy học, nên gà không có dịch. Anh Chìu Chăn Nàm, một chủ hộ nuôi nói với tôi: “Sang năm các chị vào đây có lẽ đàn gà sẽ gấp đôi gấp ba như thế này. Trước kia nuôi nhiều thì sợ không có gì cho nó ăn, nay được Nhà nước hỗ trợ thế này thì tốt quá. Kể ra được Nhà nước đầu tư thêm một máy ấp trứng cho các thôn thì càng hiệu quả hơn”. Anh Hùng cho biết Tết này, Văn phòng Uỷ ban sẽ giúp tiêu thụ hết số gà nuôi của thôn. Tôi bảo anh Hạnh, Phó Chủ tịch UBND xã: “Các anh đầu tư mô hình này là rất hợp lý. Bởi một số nơi hỗ trợ đầu tư cho bà con mua phân bón chỉ giải quyết được một phần khó khăn trước mắt, hiệu quả không rõ”. Anh Hạnh nói rõ thêm: “Ngay từ đầu năm, dù chưa tiến hành giải ngân được, nhưng xã đã có chương trình triển khai để bà con thực hiện nhân giống gà. Mỗi tháng cán bộ xã xuống một, hai lần để nắm tình hình thực hiện của bà con”.

Với tôi chuyến đi hôm nay thật là lý thú không phải chỉ là nhìn thấy hiệu quả của mô hình mà còn được đón nhận tình cảm của đồng bào dân tộc dành cho. Theo tâm sự của nhiều bạn trẻ, tài sản họ trước không có gì, nhưng nay đã có được một đàn gà trị giá trên chục triệu đồng. Và từ đây sẽ tiếp tục nhân thêm nhiều hộ khác trong thôn. Có điều khiến tôi trăn trở là làm gì để giữ được thương hiệu gà Tiên Yên trong bối cảnh gà nhập lậu nhiều, giá rẻ hơn. Các mô hình nuôi mới chỉ là theo tập quán chung của bà con từ trước, chuồng trại chưa được đảm bảo, gà rất có thể sinh bệnh, làm giảm hiệu quả mô hình, gây tư tưởng hoang mang cho bà con. Vì thế cán bộ xã nên hợp đồng với thú y huyện định kỳ xuống tiêm phòng cho gà, khuyên bà con không nên mua gà nơi khác về ăn; động viên nhân rộng các hộ có khả năng chăn nuôi, đầu tư thêm máy ấp trứng, hướng dẫn bà con làm chuồng đúng kỹ thuật.

Báo Quảng Ninh
(2009-01-20)

 

Triển vọng từ cây bí xanh vụ đông

Email In PDF.

Triển vọng từ cây bí xanh vụ đông

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu mùa vụ nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích canh tác đang là một phong trào phát triển rộng khắp trên địa bàn huyện Đầm Hà.


Thời gian này toàn huyện đã có nhiều mô hình cây trồng vụ đông cho hiệu quả cao như: cà chua, su hào, ngô ngọt, đậu tương...Đặc biệt, mô hình cây bí xanh vụ đông đã được bà con nông dân ở xã Tân Lập cùng một số địa phương khác đưa vào trồng và đang từng bước được nhân rộng vì cho giá trị kinh tế cao.


Bí xanh là loại cây được người dân trồng đại trà chủ yếu trong vụ xuân nên khi đưa vào trồng trong vụ đông là một bước chuyển dịch cơ cấu mùa vụ hết sức độc đáo. Thời gian đầu, nhiều hộ nông dân không khỏi băn khoăn, lo lắng về kỹ thuật canh tác và hiệu quả khi đưa loại cây này vào trồng trái vụ. Nhưng những kết quả mà nhiều hộ dân ở xã Tân Lập (Đầm Hà) đạt được đã xua tan những nghi ngờ, băn khoăn về hiệu quả của bí xanh vụ đông. Chúng tôi đến gia đình chị Đinh Thị Kiên, thôn Hà Lai, xã Tân Lập, trong lúc hai vợ chồng chị đang chăm sóc vườn bí rộng hơn 1.000 m2 chuẩn bị cho thu hoạch với những giàn bí trĩu quả. Chị Kiên cho biết: “Gia đình tôi chuẩn bị thu hoạch đợt hai, ước tính vụ này sẽ được hơn chục triệu đồng. Năm trước, thấy nhiều gia đình trong xã trồng bí xanh vụ đông cho hiệu quả cao nên gia đình tôi cũng đầu tư giống, phân bón để trồng mong có thu nhập cao. Sau khi học hỏi kỹ thuật canh tác của một số hộ có kinh nghiệm, cuối tháng 6-2008 (âm lịch) gia đình tôi đã trồng gần 2.000 hốc bí xanh trên diện tích 1.000 m2. Sau gần 3 tháng chăm sóc đến cuối tháng 9 thì bí cho thu hoạch bình quân mỗi hốc từ 3-4 quả, bán với giá trên 5.000 đồng/kg. Sau đợt thu hoạch đó, gia đình tôi đã nhận thấy rõ lợi ích mà giống cây trồng này mang lại. Hiện tại, vườn bí vẫn tiếp tục cho thu hoạch và gia đình tôi đã đầu tư mở rộng thêm diện tích”. Chị Kiên còn cho biết thêm: kỹ thuật trồng bí xanh vụ đông không hề khó, ngoài việc chăm sóc thông thường như khi trồng vụ xuân thì cần quan tâm nhiều hơn đến thời điểm mới trồng vì thời điểm đó cây bí dễ bị mắc bệnh nấm gốc nên phải chú ý phòng trừ kịp thời. Và do trồng vào vụ đông ít o­ng bướm nên muốn đạt tỷ lệ đậu quả cao, người trồng bí phải đầu tư nhiều hơn đến việc tự thụ phấn cho hoa. Khi cây bí bắt đầu ra quả phải tiến hành bấm ngọn để cây tập trung nuôi quả. Nếu thực hiện tốt các bước này thì năng suất sẽ không thua kém vụ xuân là mấy và cho hiệu quả cao hơn vì thường vào vụ đông bán được giá cao hơn.


Anh Lê Văn Phong, thôn Tân Lập, xã Tân Lập có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng bí xanh. Qua nhiều năm phát triển loại cây này anh nhận thấy bí xanh là loại cây dễ trồng, tốn ít công chăm bón nhưng lại cho hiệu quả kinh tế cao. Để có bí bán trong vụ đông, nhiều lần anh đã trồng thử nghiệm vào các vụ khác nhau và xác định nếu trồng vào vụ đông chỉ cần có cách chăm sóc phù hợp với đặc điểm cây trồng và điều kiện thời tiết thì năng suất và sản lượng sẽ không thua kém chính vụ là bao. Khi trồng thử nghiệm đã cho kết quả ưng ý, anh đã mở rộng trên 500 m2 trồng giống bí hạt nhỏ vụ đông và đây là loại giống chính trên diện tích trồng bí nhà anh. Sau 3 tháng canh tác, trên 1.000 hốc bí hạt nhỏ, mỗi hốc cho thu hoạch từ 3-4 quả với giá bán bình quân từ 4.000-5.000 đồng/kg, trừ chi phí gia đình anh có lãi hơn chục triệu đồng.

Không chỉ gia đình chị Kiên hay anh Phong mà hiện nay tại xã Tân Lập, bà con nông dân đang từng bước chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, mùa vụ với nhiều giống cây trồng cho năng suất cao đã được đưa vào gieo trồng trên đồng ruộng cho hiệu quả khá cao. Chỉ tính riêng mô hình trồng bí xanh vụ đông đã có hàng chục hộ thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, những mô hình này hiện nay vẫn mang tính nhỏ lẻ, manh mún vì thế rất cần sự quan tâm hơn nữa của chính quyền địa phương với những cơ chế hỗ trợ, khuyến khích hợp lý để đưa bí xanh vụ đông trở thành một mô hình kinh tế thực sự hiệu quả, giúp bà con nông dân có điều kiện phát triển kinh tế gia đình.

Báo Quảng Ninh
(2009-01-20)

 
Trang 274 trong tổng số 338

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video