Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

TP. Thanh Hóa nâng mức hỗ trợ khuyến nông

Email In PDF.
Với cơ chế chính sách hỗ trợ mới này thành phố Thanh Hóa đặt mục tiêu phấn đấu trong 2 năm 2009 và 2010 sẽ chuyển đổi thành công 338,67ha đất...
Đọc thêm...
 

Cỗ máy mang thương hiệu nông dân

Email In PDF.
Anh Lâm Văn Mười ở ấp Hòa Thuận, xã Nam Thái Sơn (Hòn Đất - Kiên Giang) trở nên nổi tiếng nhờ cỗ máy phun thuốc bảo vệ thực vật...
Đọc thêm...
 

Mô hình sản xuất hiệu quả ở Bạc Liêu

Email In PDF.

Mô hình sản xuất hiệu quả ở Bạc Liêu

Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bạc Liêu các năm gần đây đã có rất nhiều mô hình sản xuất hiệu quả cao và bền vững. Điển hình: mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo qui trình "3 giảm 3 tăng"; nuôi gà thịt an toàn sinh học; trồng rau an toàn; đưa cây màu xuống ruộng; lúa - cá; lúa - tôm; bồn bồn - cá; nuôi cá chình, cá bống tượng, cá kèo, cá chẽm, tôm - cua - cá v.v... Các mô hình sản xuất mới phát triển nhanh, rộng cho thấy tính sáng tạo của người sản xuất.

Vĩnh Lợi, Hòa Bình, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải là những huyện sản suất lúa chất lượng cao theo quy trình 3 giảm, 3 tăng thuần thục, phổ biến. Nhìn chung năng suất lúa tại các điểm áp dụng 3 giảm, 3 tăng đều cao hơn lúa sản xuất theo tập quán truyền thống từ 300 - 400kg/ha, lúa ít bị sâu hại tấn công, ít đổ ngã, giảm chi phí sản xuất từ 1 - 2 triệu đồng/ha.


Nuôi gà thịt an toàn sinh học là mô hình nuôi nhốt trong chuồng hoặc nuôi thả vườn theo hướng sinh thái, nhưng phải có lưới quây để quản lý không cho gà chạy rong. Yêu cầu của mô hình này là chuồng nuôi xa nhà ở ít nhất 50m, nuôi với quy mô vừa phải (từ 200 - 500 con/hộ); phải tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin ngừa bệnh, nhất là vắc-xin cúm gia cầm. Con giống phải sạch bệnh, vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ và định kỳ sát trùng chuồng trại; cho gà ăn sạch, uống sạch, đồng thời kiểm tra dịch bệnh thường xuyên. Giống gà thực hiện mô hình là gà Lương phượng, có nguồn gốc từ Trung Quốc, thịt thơm ngon, thích nghi với điều kiện thả vườn, khả năng chống chịu với bệnh tật tốt…


Với thời gian nuôi từ 60 - 70 ngày, trọng lượng trung bình gà đạt 1,3 - 1,4kg/con. Trường hợp đầu tư 100% bằng thức ăn công nghiệp, để đạt trọng lượng trên, thời gian nuôi chỉ khoảng 55 - 60 ngày. Cá biệt, ở một số hộ nuôi, trọng lượng gà đạt 1,7kg/con chỉ mới 55 ngày tuổi. Gà trống trưởng thành nặng 3 - 4kg/con, gà mái nặng 2,5 - 3kg/con, gà mái có khả năng đẻ từ 160 - 170 trứng/con/năm.


Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Bạc Liêu, gà nuôi theo quy trình an toàn sinh học tỷ lệ hao hụt chỉ chiếm khoảng 5% trở xuống. Tổng kết mô hình ở từng năm, với giá bán dao động từ 30.000 - 40.000 đồng/kg, cứ 100 con gà, người nuôi lợi nhuận từ 2,5 - 3 triệu đồng.


Đối với mô hình lúa - màu, nổi bật nhất là mô hình lúa - dưa hấu. Có hàng trăm hộ thực hiện mô hình này, tập trung ở các xã như Hưng Hội (Vĩnh Lợi), Vĩnh Bình, Vĩnh Mỹ A (Hòa Bình), Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Thanh (Phước Long), Phong Thạnh Đông (Giá Rai) và Phường 8 (TX Bạc Liêu).


Ông Sơn Pô, ấp Nước Mặn, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi là một trong những người thực hiện đầu tiên mô hình 1 vụ lúa và 1 vụ lúa xen dưa hấu với diện tích 0,26 ha. Ông cho biết sau khi thu hoạch xong lúa vụ 1, tiếp tục làm đất để sạ vụ 2 nhưng có để trống phần đất đủ cho đào mương và lên liếp trồng dưa (khoảng 40% diện tích), nhằm tranh thủ thời vụ. Khi lúa sạ được 45 ngày tuổi, tiến hành đào mương và lên liếp trồng dưa trên diện tích đất đã còn trống ấy. Dưa xuống giống được khoảng 15 ngày thì sắp đến kỳ thu hoạch lúa.


Với cách làm này ông đã tận dụng được diện tích để làm thêm vụ lúa thay vì phải bỏ trống và dưa hấu cũng kịp thu hoạch vào dịp Tết. Với diện tích 0,26 ha ông thực hiện trong vụ mùa 2007 – 2008 cho thu 22,2 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi 12,5 triệu đồng.


Mô hình lúa - tôm được nhiều hộ nông dân ở huyện Phước Long và Hồng Dân thực hiện khá thành công. Hộ ông Nguyễn Văn Quýt ở ấp Phước Thạnh, xã Phước Long, huyện Phước Long thực hiện luân canh 2 tôm - 1 lúa khá hiệu quả. Trồng lúa trên đất nuôi tôm chi phí rất thấp (ít tốn giống, phân bón, thuốc trừ sâu...) mà năng suất tương đối cao (trên 30 giạ/công), tôm rất mau lớn, năng suất khoảng 200kg/ha (không phải cho ăn).


Cách làm của anh Quýt là: Sau khi thu hoạch 2 vụ tôm, đến tháng 7 (ÂL) anh bắt đầu cải tạo vuông, xới đất rửa mặn để tiến hành sạ lúa, lượng giống từ 50 - 60kg/ha (sạ thưa), giống lúa 1 bụi đỏ (giống lúa mùa địa phương). Tôm thả mật độ 1 con/m2, sau 3 tháng nuôi có thể thu hoạch (loại 30 con/kg). Với diện tích 3 ha, năm vừa qua thu từ trồng lúa được 50 triệu đồng, trừ chi phí 13 triệu đồng còn lãi 37 triệu đồng. Tôm thu 90 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi 70 triệu đồng. Tổng lãi 107 triệu đồng.


Trong xu thế hiện nay, khi thị trường đang tiềm ẩn những nguy cơ bất lợi về đầu ra giá cả nông sản thì việc áp dụng các mô hình kết hợp để đa dạng hóa sản phẩm là hướng đi thích hợp mà khuyến nông Bạc Liêu đang áp dụng khi làm mô hình.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-07)

 

Quảng Ngãi: Mô hình nuôi thâm canh cá chình

Email In PDF.

Quảng Ngãi: Mô hình nuôi thâm canh cá chình

Theo chân anh cán bộ khuyến nông huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), chúng tôi tham quan mô hình nuôi cá chình trong bể xi măng theo hướng thâm canh tại hộ chị Đặng Thị Minh Thuý, xã Bình Thạnh.

Kỹ sư Nguyễn Ngọc Tài, cán bộ kỹ thuật theo dõi mô hình cho biết: Hồ nuôi cá chình được xây bằng gạch, trát xi măng. Hồ nuôi dạng hình tròn với diện tích 100 m2, hồ sâu 2 m, độ sâu mực nước từ 1,2-1,5 m; có nguồn nước chủ động, cống cấp và thoát nước riêng. Sau khi cải tạo ao, kiểm tra các yếu tố môi trường thích hợp, cán bộ kỹ thuật đã cho tiến hành thả giống (có kích thước đồng đều, trọng lượng 110-120 g/con). Mật độ nuôi 6 con/m2, tổng cộng thả 600 con giống vào giữa năm 2008.


Theo anh Nguyễn Văn Tình - cán bộ kỹ thuật của Trạm Khuyến nông huyện Bình Sơn, nuôi cá chình trong bể xi măng là hình thức nuôi thâm canh, vì vậy đòi hỏi các điều kiện nhất định như phải sử dụng máy sục khí để tăng lượng oxy vì loài cá này cần nhu cầu oxy cao (hàm lượng oxy phải đạt từ 4 mg/l); thường xuyên kiểm tra màu nước, nước có màu lá chuối non hoặc màu của hạt đậu xanh là tốt nhất; cá chình phải được quản lý chăm sóc chu đáo, nhất là lúc mới mua về nuôi vì giống bắt trong tự nhiên; thức ăn chế biến riêng theo tỷ lệ bột cá chiếm khoảng 70-75%, tinh bột 25-30% và một ít vi lượng, vitamin.


Cá tạp để cho cá chình ăn cần được cắt khúc vừa miệng cá, sau đó tẩm thêm dầu mực khoảng 15 phút rồi cho cá ăn ngay. Lượng thức ăn hàng ngày bằng 3-5% trọng lượng cá. Không nên cho cá chình ăn quá nhiều sẽ gây bội thực và thức ăn dư thừa sẽ làm ô nhiễm nước. Hàng tuần xi phông đáy để tẩy bẩn. Để tạo môi trường tự nhiên cho cá chình cần làm hòn non bộ cho cá trú ẩn. Ở mô hình này sử dụng các ống nhựa cắt khúc bó thành từng bó để cá trốn vào theo tập tính của loài. Nuôi cá chình đảm bảo các yếu tố kỹ thuật trên, năng suất có thể đạt được 30-45 tấn/ha (tức 3-4,5kg/m2 mặt nước). Sau nuôi 1 năm cá có thể đạt trọng lượng trên 1kg/con.


Đến nay sau 6,5 tháng nuôi, nhờ chăm sóc đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của cán bộ Trung tâm khuyến ngư tỉnh nên cá phát triển rất tốt, tỷ lệ sống trên 75%, trọng lượng cá trung bình 700 gam. Hạch toán hiệu quả của mô hình đến thời điểm hiện tại: 1 kg cá giống có giá khoảng 600 nghìn đồng, tiền giống cá là 36 triệu đồng; tiền thức ăn khoảng 28,3 triệu đồng (15 kg thức ăn cho một kg cá tăng trọng, trung bình 1 kg thức ăn là 6.000 đồng); chi phí thuốc xử lý ao và phòng trừ bệnh 2 triệu đồng; tổng chi phí (chưa tính công chăm sóc) đến thời điểm này khoảng 66,35 triệu đồng. Sản lượng ước đạt 315 kg, giá bán ra thị trường hiện nay khoảng 300 nghìn đồng/kg; tổng thu khoảng 94,5 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, gia đình chị Thuý sẽ thu lãi trên 28,15 triệu đồng.


Theo chị Thuý, kế hoạch của Trung tâm Khuyến ngư là sau nuôi 8 tháng sẽ thu hoạch khi cá đạt trung bình 0,5 kg/con, nhưng hiện nay mới chỉ 6,5 tháng nuôi cá đã đạt 0,7 kg/con; chị đã thống nhất với Trung tâm để nuôi đến khi cá đạt trên 1 kg/con sẽ xuất bán. Như vậy hiệu quả sẽ còn cao hơn nhiều so với hạch toán trên.


Từ kết quả của mô hình này, Trung tâm Khuyến ngư Quảng Ngãi sẽ mở rộng nuôi mô hình và phổ biến cho nhiều người cùng nuôi cá chình trong bể xi măng theo hướng thâm canh. Được biết, Trung tâm Khuyến ngư cũng đang chuẩn bị thực hiện đề tài chuyển giao kỹ thuật ương cá chình bột để giải quyết tình trạng khan hiếm nguồn cá giống, giúp cho nông dân có nguồn giống tại chỗ, mở rộng mô hình nuôi cá chình trong tương lai.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-07)

 

Xã Thiệu Công (Thiệu Hóa): Trồng đậu tương trên đất hai vụ lúa

Email In PDF.

Xã Thiệu Công (Thiệu Hóa): Trồng đậu tương trên đất hai vụ lúa

Nhằm giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích, vụ đông năm 2008, Trạm Khuyến nông huyện Thiệu Hóa phối hợp với xã Thiệu Công (Thiệu Hóa) đưa vào gieo trồng mô hình 50 ha đậu tương trên đất hai vụ lúa, với khoảng gần 400 hộ tham gia.


Để mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao, cán bộ khuyến nông huyện đã  trực tiếp tập huấn khoa học - kỹ thuật, cho nông dân. Do thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nên cây đậu tương ở Thiệu Công phát triển khá tốt. Đến nay, nông dân đã bắt đầu thu hoạch, năng suất bình quân đạt từ 1,6 đến 1,7 tấn/ha. Sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư phân bón, giống, thuốc trừ sâu, công chăm sóc..., trung bình 1 ha đậu tương nông dân lãi khoảng 1,5 triệu đồng.


Theo một số bà con nông dân ở xã Thiệu Công tham gia mô hình trồng đậu tương, cho biết: Cây đậu tương có thời gian sinh trưởng từ 110 đến 120 ngày, chi phí đầu tư ít hơn so với một số cây trồng khác. Dự kiến, vụ đông năm 2009, huyện Thiệu Hóa sẽ mở rộng trồng từ 500-1.000 ha đậu tương trên đất hai vụ  lúa.

Báo Thanh Hóa
(2009-01-07)

 

Chế phẩm sofri protein diệt trừ ruồi đục quả

Email In PDF.

Trong khuôn khổ chương trình dự án CS2/1998/005 "Quản lý dịch hại ruồi đục quả tăng cường sản xuất rau quả xuất khẩu", Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (SOFRI) đã hợp tác với nhà máy bia Foster Tiền Giang nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm SOFRI PROTEIN theo công nghệ của Australia để phòng trừ ruồi đục quả hại trái cây ở nước ta.

Theo đó, men bia (từ nhà máy bia FOSTER Tiền Giang) được đun nóng 65-70oC để làm bốc hơi cồn, chưng cất làm giảm thể tích 50% để đạt độ pH từ 5,7-5,8 rồi tiếp tục được phân giải protein bằng enyme papain (0,2%) ở nhiệt độ dưới 70oC để tạo ra protein thuỷ phân. Tiếp theo protein thuỷ phân được bảo quản trong Potassium sorbate 0,25% để tạo ra thành phẩm protein thuỷ phân sử dụng như một loại mồi nhử dẫn dụ rất hấp dẫn ruồi trưởng thành ăn trước khi sinh sản.


Chế phẩm SOFRI PROTEIN được pha thêm 5% thuốc trừ sâu để phun phòng trừ ruồi đục quả rất có hiệu quả, có thể bảo vệ được 95% sản lượng rau quả khỏi nạn ruồi đục với một lượng thuốc trừ sâu ít hơn 500 lần so với các phương pháp khác, nên rất an toàn và ít gây ô nhiễm môi trường. Theo tính toán của SOFRI, cứ 5 lần phun chế phẩm SOFRI PROTEIN trên diện tích 250ha tiết kiệm được 300 triệu đồng.


Chế phẩm được phun thử nghiệm trên diện rộng ở nhiều địa phương, trên nhiều loại rau quả khác nhau, trong nhiều năm qua đạt kết quả rất tốt: hiệu quả tiêu diệt và hạn chế gây hại của ruồi cao; tăng sản lượng và chất lượng rau quả thu hoạch; giảm chi phí trong sản xuất do giá thành rẻ; bảo vệ được môi trường và côn trùng có ích; không có dư lượng thuốc BVTV trên sản phẩm nên được thị trường nội địa chấp nhận, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu... Tháng 5/2006 chế phẩm SOFRI PROTEIN đã được Hội đồng Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật, cho phép sử dụng rộng rãi trong sản xuất.


Qui trình phòng trừ:


- Trước khi phun chế phẩm SOFRI thuỷ phân, bà con cần thu gom hết trái rơi rụng trong vườn đem chôn sâu dưới đất có rải vôi bột để tiêu diệt hết trứng và dòi non nhằm tránh lây lan.


- Cách pha và bảo quản chế phẩm: Nếu phun cho diện tích lớn, nhiều cây, sử dụng bình bơm 10 lít: pha 1,5 lít bã protein + 50 ml thuốc Regent 5 SC. Sử dụng đến đâu, pha đến đó. Chế phẩm được bảo quản ở nhiệt độ thường 26oC, nơi râm mát.


- Cách phun: Đối với các cây ăn quả phun mỗi cây khoảng 20-50 ml (tuỳ theo cây to hay nhỏ) thành các đốm nhỏ dưới tán cây. Đối với các loại rau, màu, các loại rau ăn trái có thể phun cách luống hoặc phun bỏ cách đoạn trên luống. Thời gian phun tốt nhất là từ 8-10 giờ sáng, tránh phun vào những ngày mưa chế phẩm sẽ không có tác dụng hấp dẫn và diệt ruồi. Chú ý: Phun mỗi tuần 1 lần cho tới khi thu hoạch, không nên phun trực tiếp lên trái và phun đồng loạt với diện tích lớn.


- Giai đoạn phun chế phẩm cho các loại rau quả: Đối với mướp, khổ qua (mướp đắng), bầu bí và sơ ri: nên phun ngay sau khi hoa thụ phấn; với thanh long, ổi, mận (doi): phun 20 ngày sau đậu trái; với nhãn, xoài, cam quýt: phun 2 tháng sau khi đậu trái.


- Có thể sử dụng chế phẩm SOFRI PROTEIN để làm bẫy bả diệt ruồi đực một cách đơn giản: tẩm 2ml dung dịch chế phẩm đã có pha thuốc trừ sâu vào bẫy (xem ảnh) đem treo dưới tán cây nơi râm mát, cách mặt đất 1-1,5m. Mỗi ha treo 20-30 bẫy, cứ 3-4 tuần thay bả 1 lần sẽ thu hút và tiêu diệt hết lượng ruồi đực nên sẽ có tác dụng giảm dần số lượng ruồi gây hại do con cái mất khả năng sinh sản.


Chế phẩm hiện có bán tại Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (SOFRI): xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, ĐT: 073. 3893133 và các đại lý thuốc BVTV ở các tỉnh.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-07)

 

Thuốc trừ sâu sinh học Catex 1,8EC & 3,6EC – sản phẩm cho rau an toàn

Email In PDF.

Để phục vụ cho các vùng sản xuất rau an toàn, không gây hại môi trường, thổ nhưỡng, Cty cổ phần Nicotex đã nghiên cứu và đưa ra thị trường sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học mang tên Catex 1.8EC & 3.6EC.

Đây là loại thuốc trừ sâu tiên tiến thế hệ mới, không sử dụng hóa chất. Với hoạt chất Abamectin 1.8%, 3.6%, Catex 1.8EC & 3.6EC có tác dụng diệt trừ các loại sâu miệng nhai và nhện đã kháng thuốc như: Sâu tơ, sâu xanh, bướm trắng hại rau cải xanh; sâu xanh da láng hại hành, đậu xanh; bọ cánh tơ, nhện đỏ hại chè và cam, quýt; nhện lông nhung hại vải; sâu cuốn lá nhỏ, nhện gié, sâu đục bẹ hại lúa…

Đặc biệt, đối với những vùng trồng rau an toàn thì nên sử dụng Catex 1.8EC & 3.6EC để trị các loại sâu tơ, sâu xanh, bướm trắng hại rau cải, hành vì thuốc có tác dụng thấm nhanh và sâu vào mô lá cây trồng, hiệu quả diệt sâu cao lại hạn chế được sự rửa trôi bởi nước mưa và nước tưới.

Catex 1.8, 3.6EC an toàn cho cây trồng, không để lại dư lượng trong nông sản, rất ít ảnh hưởng đến thiên địch. Đặc biệt, trong cây trồng (rau cải, bắp cải, rau diếp, hành tỏi, đậu ăn quả…), Catex 1.8, 3.6EC bị phân huỷ nhanh dưới ánh sáng mặt trời, tạo ra các chất khác vô hại. Dư lượng của thuốc tồn lưu rất ít trong nông sản và không gây độc cho cây trồng, thời gian cách li ngắn (3-5 ngày) nên phù hợp với chương trình sản xuất rau an toàn.

Chú ý khi sử dụng Catex 1.8EC, 3.6EC:

- Đối với lúa phun 320 lít/ha, với rau màu phun 400 – 500lít/ha, với cây ăn quả phun ướt đều tán lá.

- Không sử dụng Catex 1.8EC, 3.6EC trong ruộng lúa có nuôi tôm, cá hoặc ruộng lúa rò rỉ nước vào hồ nuôi cá.

- Không phun thuốc khi cây đang ra hoa ở những nơi nuôi ong mật.

- Không được pha chung Catex 1.8EC, 3.6EC với các loại thuốc có tính kiềm.

- Bảo quản thuốc ở nơi thoáng mát, không có ánh nắng mặt trời để tránh bị phân hủy.

Website Rau Hoa Quả Việt Nam
(2009-01-06)

 

Máy đào đất

Email In PDF.
Có những nhà nông rặt ri, thậm chí chưa từng được học hành, nhưng sự kiên trì học hỏi đã làm nên sức sáng tạo có giá trị không nhỏ. Sự kiên trì đã giúp họ khắc phục những khó khăn thử thách trong lao động hằng ngày, vượt qua những định kiến để làm giàu cho mình và giúp ích cho xã hội.
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 09 Tháng 11 2010 17:57 ) Đọc thêm...
 

Quảng Ngãi: Kết quả mô hình nuôi cá mú lồng

Email In PDF.

Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Quảng Ngãi triển khai mô hình nuôi cá mú vào tháng 5/2008 tại hộ ông Nguyễn Minh Việt, xã Tịnh Hoà, huyện Sơn Tịnh với quy mô 6 lồng, mỗi lồng 11,2 m2. Cá nuôi trong lồng hình chữ nhật có lưới bao bên ngoài, kích thước lồng 3,5m x 3,3m x 1,5 m, lồng có nắp bằng lưới đậy phía trên, có lỗ cho cá ăn, thả nuôi trên sông. Lượng cá thả nuôi là 1.206 con, mật độ 18 con/m2. Nguồn giống được thu gom từ địa phương, đúng theo tiêu chuẩn quy định.

Kỹ sư Nguyễn Ngọc Tài, cán bộ kỹ thuật theo dõi mô hình cho biết: Cá mú là loại cá ăn tạp, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn khá lớn từ 5-10% trọng lượng cá mỗi ngày, cá tăng trọng bình quân hơn 100 g/tháng. Cá mú thích nghi với môi trường không quá khắc nghiệt, có thể phát triển tốt, ăn mạnh chóng lớn ở điều kiện độ pH dao động từ 7-8,1, nhiệt độ duy trì ở 29-31oC, độ mặn từ 25-35%o. Riêng trong mùa mưa khi độ pH, nhiệt độ, độ mặn giảm thì khả năng phát triển của cá sẽ chậm và nguy cơ bệnh tật càng cao.


Kết quả sau gần 7 tháng nuôi, tỷ lệ cá sống đạt trên 70%, trọng lượng cá đạt bình quân 800 g/con. Tổng sản lượng thu được ước khoảng 675 kg, với giá bán hiện nay 190.000 đ/kg, thì tổng thu của mô hình là trên 128 triệu đồng, trừ chi phí, lãi trên 54 triệu đồng.


Cá mú thích hợp nuôi lồng thả dọc ven các sông gần cửa biển, có nước thuỷ triều lên xuống, có dòng chảy không quá mạnh, tàu thuyền ít qua lại. Hiệu quả của mô hình góp phần đa dạng đối tượng nuôi thuỷ sản, khai thác những lợi thế sẵn có tại địa phương.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-06)

 
Trang 274 trong tổng số 333

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video