Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Đốn, chăm sóc chè qua đông

Email In PDF.

Đốn, chăm sóc chè qua đông

Từ tháng 12 đến hết tháng 1 hàng năm là thời gian đốn và chăm sóc chè qua đông. Đây là 2 trong các khâu cơ bản và quan trọng nhất của qui trình thâm canh cây chè được thực hiện trong vụ đông, sau khi kết thúc một năm thu hoạch nhằm tái tạo cho vườn chè để chuẩn bị cho một năm thu hoạch đạt năng suất cao, phẩm cấp chè tốt nhất.

Tùy theo tuổi cây và thời kỳ khai thác người ta chia ra làm 2 giai đoạn: chè kiến thiết cơ bản và chè kinh doanh để có các phương pháp và kỹ thuật đốn cho phù hợp.


Đốn chè kiến thiết cơ bản: Trong giai đoạn 2-3 năm sau trồng là thời kỳ chăm sóc kiến thiết cơ bản cần tiến hành mọi biện pháp chăm sóc tốt để cây chè con mọc khỏe, sinh trưởng nhanh, đồng đều, tạo nên một bộ khung tán rộng là cơ sở cho năng suất chè búp cao, sản lượng nhiều và nhanh chóng chuyển sang giai đoạn chè kinh doanh. Thông thường đối với chè kiến thiết cơ bản có 2 lần đốn tạo hình.


Lần 1 đốn khi có 70% số cây trên vườn đạt chiều cao trên 70%, đường kính gốc đạt trên 1,2cm (sau 1 năm trồng), đốn cách mặt đất 25cm, trên chỗ phân cành, nhánh cấp 1. Các cành, nhánh để phát triển tự do, khi thân chính nẩy mầm, dựng thước chữ T tạo hình 3 lần ở độ cao 50-55cm. Thời gian đốn tốt nhất là tháng 5-6 hoặc tháng 9-10. Đốn lần 2 (sau lần một 1 năm), đốn cách mặt đất 30-35cm (cách vết đốn trước từ 5-10cm), cành bên đốn cao 40-45cm (cách vết đốn lần 1 từ 5-10cm), tạo bộ khung tán đưa vào kinh doanh. Thời gian đốn tốt nhất là tháng 9-10.


Đốn chè kinh doanh: Trong chu kỳ kinh doanh của cây chè thường người ta áp dụng 4 hình thức đốn, gồm: đốn phớt, đốn lửng, đốn đau và đốn tái sinh (trẻ hóa). Đốn phớt là hình thức đốn hàng năm, 2 năm đầu đốn cao hơn vết đốn cũ 5cm, năm thứ 3 trở đi mỗi năm đốn cao hơn vết đốn cũ 3cm. Khi vết đốn đã cao hơn 60cm thì mỗi năm nên đốn cao hơn vết cũ 1cm.


Với những vườn chè cằn cỗi, sinh trưởng kém cần căn cứ vào tình hình cụ thể của từng vườn có thể áp dụng 1 trong 2 biện pháp sau: những vườn chè chưa giao tán, tán lá thưa, số lá chừa ít thì áp dụng kỹ thuật đốn phớt xanh (chỉ đốn đi phần chè có màu xanh, còn giữ lại trên tán phần chè có màu nâu); những vườn chè có tán lá nhỏ hoặc chè già có tầng tán thưa, mỏng, nhiều cành tăm hương, lá màu vàng nhạt thì nên áp dụng kỹ thuật đốn sửa bằng (chỉ đốn tỉa phần đỉnh cao giữa tán, giữ lại phần lớn cành, lá trên tán nhằm tạo cho tán chè tiếp tục phát triển rộng ra).


Đốn lửng: những vườn chè đã qua đốn phớt nhiều năm, cây đã quá cao quá tầm hái, nhiều cành tăm hương, lá nhỏ, búp nhỏ, năng suất giảm dần thì nên tiến hành đốn lửng, vết đốn cách mặt đất 60-65cm. Với những vườn chè sinh trưởng tốt, năng suất khá nhưng cao quá tầm hái thì đốn cách mặt đất 70-75cm. Đốn đau: những vườn chè đã qua đốn lửng 2-3 lần, cây chè có biểu hiện suy yếu, năng suất giảm rõ rệt thì tiến hành đốn đau, vết đốn cách mặt đất 40-45cm.


Đốn trẻ lại (hay còn gọi là đốn tái sinh hay đốn thay tán): những vườn chè già cỗi, đã qua đốn đau nhiều lần, thân cành bị sâu bệnh gây hại nhiều, năng suất giảm nghiêm trọng nên tiến hành đốn trẻ lại, vết đốn cách mặt đát 10-15cm. Thời vụ đốn chè tốt nhất là vào giai đoạn cây chè đã ngừng sinh trưởng, nhiệt độ và độ ẩm thấp nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau). Tuy nhiên, thời gian đốn sớm hay muộn còn căn cứ vào điều kiện khí hậu, thời tiết của từng năm, hình thức đốn, mục đích kinh doanh và tập quán canh tác của địa phương mà có thể xê dịch từ 5-10 ngày.


Theo Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, nên áp dụng qui trình đốn 3 năm đối với chè đã sản xuất kinh doanh nhiều năm. Năm thứ nhất đốn lửng cách mặt đất 55cm, năm thứ 2 đốn cao 60cm, năm thứ 3 đốn cao 65cm so với mặt đất; sau 3 năm lại trở lại đốn lửng sát vết đốn của chu kỳ đầu.


Chăm sóc chè qua đông: Thu dọn hết cành, nhánh chè sau khi đốn xong đưa ra ngoài bờ lô để ép xanh kết hợp cùng với các loại cây phân xanh và vôi nhằm tạo thêm nguồn phân hữu cơ để bón cho chè sau này. Xới xáo, làm cỏ, nơi nào có điều kiện có thể dùng trâu, bò cày giữa hàng rồi bón phân hữu cơ và phân lân, đồng thời phun 1 lượt thuốc (tốt nhất là thuốc trừ sâu sinh học) nhằm tiêu diệt và hạn chế sâu bệnh gây hại. Dùng xác thực vật (rơm, rạ, cỏ khô, thân cây ngô…) để phủ kín giữa các hàng chè sau vừa để giữ ẩm cho đất, chống hạn cho cây, giữ ấm chống lạnh cho cây chè qua đông, đồng thời hạn chế cỏ dại, tăng cường dinh dưỡng để cây chè đâm chồi, nẩy lộc khi bắt đầu có mưa xuân.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-15)

 

Sử dụng chất kích kháng SAR3 phòng trừ bệnh đạo ôn

Email In PDF.

Theo khuyến cáo, khi sử dụng Qui trình canh tác lúa có sử dụng chất kích kháng bệnh đạo ôn nông dân cần chú ý một số điểm sau đây:

- Chuẩn bị đất: Cũng như kỹ thuật trồng lúa “3 giảm, 3 tăng” bà con cần làm đất kỹ, san phẳng mặt ruộng để quản lý được nước tốt vì bệnh cháy lá liên quan rất nhiều đến chế độ nước, trong điều kiện thời tiết tốt mà thiếu nước thì bệnh cháy lá sẽ phát sinh, phát triển và gây hại nặng.


- Sử dụng hạt giống khỏe. Trước khi ngâm ủ, nên gạn lúa giống trong nước muối 15% để loại bỏ các hạt lép lửng dễ mang nhiều mầm bệnh. Tiếp theo lúa giống được rửa sạch nước muối rồi pha 10cc chất kích kháng trong10 lít nước để ngâm 20kg thóc giống trong thời gian 24 giờ, vớt ra đem ngâm ủ bình thường cho đến khi mọc mộng thì đem gieo.


- Gieo sạ thưa (nếu sạ tay: 100-120kg/ha, sạ hàng bằng máy 70-75kg/ha là vừa) giúp cây lúa khỏe, đẻ nhiều, cho năng suất cao, hạn chế bệnh đạo ôn. Thường xuyên canh đủ nước, tránh để ruộng khô nhằm giúp cây lúa kháng bệnh tốt hơn. Bón phân cân đối theo chương trình “3 giảm, 3 tăng”, đặc biệt không bón thừa đạm.


- Sau khi gieo sạ 25-30 ngày pha 10cc SAR3 trong bình 16 lít phun cho 1 công (1.000m2). Nếu có điều kiện, phun thêm 1 lần kích kháng trước khi cây lúa trỗ bông để hạn chế bệnh đạo ôn cổ bông gây hại.


- Thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện bệnh để có các biện pháp xử lý kịp thời. Sau giai đoạn trỗ, nếu thấy xuất hiện bệnh cần phun thêm 1 lần thuốc trừ bệnh hóa học.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-15)

 

Khuyến nông Thanh Hoá: Lấy hiệu quả làm niềm tin cho nhà nông

Email In PDF.
Một ngày đầu năm 2009, chúng tôi có mặt ở Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thanh Hoá và được hoà mình vào bầu không khí vui tươi phấn khởi của tập thể CBCNV nơi đây. Các cán bộ khoa học kỹ thuật, những người "một nắng hai sương" đã từng lăn lộn nơi ruộng đồng, vườn - ao - chuồng với người nông dân, hôm nay trên mỗi gương mặt của họ rạng ngời hơn.
Đọc thêm...
 

Vĩnh Phúc: 4 mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật vào gieo trồng, chăm sóc lúa tại huyện Vĩnh Tường

Email In PDF.
Trong vòng 3 năm qua, huyện Vĩnh Tường đã triển khai 4 mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất trên diện rộng, giúp nâng năng suất lúa trên diện tích 2.500 ha tăng 10%.
Đọc thêm...
 

Một nông dân lai tạo thành công hơn 20 giống lúa

Email In PDF.
Là một nông dân học hết lớp 12, anh Trần Thanh Hùng, 54 tuổi, ở ấp Núi Voi, xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã lai tạo thành công trên 20 giống lúa năng suất, chất lượng cao và kháng rầy nâu.
Đọc thêm...
 

Khuyến nông Thanh Hoá: Lấy hiệu quả làm niềm tin cho nhà nông

Email In PDF.

Khuyến nông Thanh Hoá: Lấy hiệu quả làm niềm tin cho nhà nông

Một ngày đầu năm 2009, chúng tôi có mặt ở Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thanh Hoá và được hoà mình vào bầu không khí vui tươi phấn khởi của tập thể CBCNV nơi đây. Các cán bộ khoa học kỹ thuật, những người “một nắng hai sương” đã từng lăn lộn nơi ruộng đồng, vườn - ao - chuồng với người nông dân, hôm nay trên mỗi gương mặt của họ rạng ngời hơn.

Ai cũng xúc động vì chặng đường 15 năm qua cả Trung tâm liên tục hoạt động có hiệu quả. Thành tích đó của Trung tâm đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.


Ông Phạm Bá Oai - PCT UBND huyện Hoằng Hoá gửi đến tập thể cán bộ Trung tâm Khuyến nông một lời cảm ơn chân thành. Ông Oai tâm sự: “Nhân dân và lãnh đạo huyện Hoằng Hoá biết ơn các cán bộ khoa học của Trung tâm KN tỉnh. Chính họ đã liên tục sát cánh bên chúng tôi, bên người nông dân suốt thời gian qua để từng bước vượt qua khó khăn”. Nhớ lại những lần cùng cán bộ Trung tâm KN xuống cơ sở giúp dân chống rét cho mạ rồi đến hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi trước, trong và sau dịch tai xanh hay đợt lúa trổ bông sớm vừa qua, ông Oai bộc bạch: “Anh em ở Trung tâm KN hết sức miệt mài, say mê với công việc. Họ hiểu tận nguồn tâm tư của người dân, sẻ chia mất mát với nông dân. Tôi trực tiếp tham gia công tác chống dịch tai xanh; khắc phục sự cố lúa trổ bông sớm, đôi lúc ngay cả bản thân mình cũng lúng túng nhưng chính có sự giúp sức của cán bộ Trung tâm KN đã làm vơi bớt lo lắng đó. Người dân được tư vấn KHKT, các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, kỹ thuật thâm canh, kỹ thuật chăn nuôi… đều được cán bộ hướng dẫn chu đáo”.


Chị Lê Thị Hồng ở thôn Thanh Sơn, xã Xuân Sơn, huyện Thọ Xuân vui vẻ “kể công” cán bộ Trung tâm KN rằng: “Hết lũ lụt, lại kinh qua rét hại, rét đậm nên có lúc chúng tôi cảm thấy tuyệt vọng vì bao mồ hôi công sức bỏ ra bỗng chốc bị tan biến. Không kịp gieo mạ để cấy lại mà tôi phải đi ton những vùng còn sót chia đều ra cho những nơi bị chết. Suốt thời gian lúa sinh trưởng, ngày nào vợ chồng tôi cũng ra ruộng chăm sóc cho từng thửa ruộng, bón phân, làm cỏ, sục bùn cho lúa. Nói thật với anh, bài toán hóc búa đó đã có lời giải trúng khi dân làng được cán bộ ở tỉnh, ở huyện, đặc biệt là các anh chị ở Trung tâm KN tỉnh về với chúng tôi mấy ngày liền, họ xắn quần, vén áo lội ruộng hướng dẫn giúp dân nên vụ lúa xuân của xã tôi năng suất đạt trên 4,5 tạ/sào, cao nhất từ trước tới nay”.


Để thấy được hiệu quả của 15 năm hoạt động đó bắt nguồn từ đâu, chúng tôi tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này ở Trung tâm KN tỉnh Thanh Hoá. Ông Lê Văn Hanh - GĐ Trung tâm giới thiệu một số kết quả hoạt động đã mang lại niềm vui cho bà con nông dân. Vấn đề được Trung tâm đặc biệt quan tâm là công tác thông tin tuyên truyền chuyển giao tiến bộ KHKT đến với bà con. Trung tâm đã in ấn, phát hành được 2.400.000 tờ tài liệu gấp, 33.600 tờ nông lịch, 105.000 cuốn sách kỹ thuật, 80.600 tờ báo, xuất bản tập nội san, mỗi quý một số, mỗi số 1.020 cuốn, phục vụ nông dân, cán bộ. Xây dựng và phát sóng được 56.700 lần các chuyên mục, chuyên đề kỹ thuật trên sóng PT- TH tỉnh, huyện và truyền thanh xã.


Trung tâm thường xuyên phối hợp với các đoàn thể, DN và trực tiếp tổ chức được 80.700 lớp tập huấn về nông, lâm, thủy sản cho 3.450.000 lượt người. Tổ chức được 1.300 đợt tham quan, hội thảo, học tập các điển hình tiên tiến trong, ngoài tỉnh cho 65.500 lượt người. Được học tập và trang bị kiến thức KHKT mới, hàng ngàn hộ nông dân có cơ hội để áp dụng vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, cải thiện đời sống. Các mô hình trình diễn cũng được triển khai khắp 27 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh với 3.500 mô hình nông, lâm, thủy sản.


Mô hình trồng trọt góp phần tạo nên bước đột phá về năng suất, sản lượng lương thực của tỉnh. Cây lúa lai từ chỗ ban đầu chỉ có ở các vùng trọng điểm lúa, đến nay đã có ở cả 27 huyện, thị xã, thành phố, vùng sâu, vùng xa. Cây ngô từ chỗ chỉ gieo trồng trên ruộng vàn cao, đất bãi với nhiều loại giống cũ, giống thuần chất lượng thấp, đến nay đã mở rộng thành hàng chục ngàn ha trên đất ướt, đất 2 lúa, với hàng chục loại giống ngô lai năng suất cao. Từ chỗ năng suất ngô bình quân cả tỉnh từ 18 đến 20 tạ/ha, nay đã được nâng lên từ 40 đến 45 tạ/ha. Cây lạc, sau khi chuyển giao giống, kỹ thuật mới, đã tăng năng suất từ 11 đến 13 tạ/ha trước năm 2000 lên 20-25 tạ/ha năm 2008. Nếu như năm 1993, sản lượng lương thực của tỉnh (gồm cả lúa, ngô và cây có củ như sắn, khoai) mới đạt 878.000 tấn, thì đến năm 2008 là 1,65 triệu tấn (chỉ tính lúa và ngô).


Mô hình chăn nuôi lợn nái ngoại, xử lý chất thải bằng biogas đã được nhân rộng. Chương trình cải tạo nâng cao tầm vóc đàn bò và vỗ béo đàn bò thịt, trồng cỏ thâm canh kết hợp với chăn nuôi bò được Trung tâm và các trạm trực thuộc thực hiện đạt kết quả cao, góp phần đưa tổng đàn bò từ 244.587 con (năm 2003) lên tới 401.992 con (năm 2007). Nhiều mô hình khuyến lâm canh tác trên đất dốc, đất nương rẫy đã giúp nông dân chống xói mòn, cải tạo đất, lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý. Đến nay, hàng chục ngàn ha đất trống đồi trọc, đất nghèo kiệt, hoang hóa đã trở thành những rừng cây lâm nghiệp, vùng chuyên canh cây ăn quả, cây công nghiệp trù phú, tạo ra những sản phẩm hàng hóa lớn... góp phần nâng độ che phủ rừng lên 45,1%.


Chương trình hành động của Khuyến nông Thanh Hóa thời gian tới là cùng toàn ngành nông nghiệp và PTNT giữ vững an ninh lương thực, thực hiện có hiệu quả NQ 26 TW 7 về nông dân - nông nghiệp - nông thôn, theo đó các giải pháp triển khai là: tiếp tục kiện toàn tổ chức hệ thống KN gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ KN vững mạnh, đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ từ tỉnh xuống cơ sở.


Duy trì, nâng cao chất lượng 3 chuyên mục KN hàng tuần trên báo hình, báo viết và báo nói. Đẩy mạnh sự phối hợp tuyên truyền giữa các trạm KN với đài phát thanh huyện, truyền thanh thôn, xã. Tăng cường, xã hội hóa công tác KN, huy động tối đa các nguồn lực xã hội vào công tác KN để tạo điều kiện cho nông dân được hưởng lợi nhiều nhất. Tiếp tục triển khai công tác tập huấn thời vụ, tập huấn đi sâu vào từng loại cây, con giống mới, chuyển giao tiến bộ KH-KT đến từng hộ nông, ngư dân. Ưu tiên một số lĩnh vực trọng điểm theo định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh, chú trọng để người nghèo được tiếp cận nhiều hơn với các hoạt động KN...

Báo Nông nghiệp
(2009-01-12)

 

Mô hình hợp tác nuôi tôm sú ở Trà Vinh

Email In PDF.

Mô hình hợp tác nuôi tôm sú ở Trà Vinh

Mùa nuôi tôm sú năm 2008 ở Trà Vinh kết thúc không làm người nông dân vui. Bởi lẽ, môi trường nuôi tôm ngày một ô nhiễm nặng hơn, giá cả đầu vào tăng, trong khi đầu ra bấp bênh làm tỷ lệ hộ nuôi tôm lỗ vốn ngày càng nhiều.


Tuy nhiên, trong hoàn cảnh chung ấy, các Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng ở huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn thu được kết quả tốt đẹp, trở thành mô hình nuôi tôm sú hứa hẹn phát triển bền vững.


Kỹ sư Dương Tấn Ðởm, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cầu Ngang cho biết, trong vụ nuôi tôm sú năm 2008, tại các xã trọng điểm nuôi tôm sú của huyện đã thành lập bảy Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng. Dù mới là năm đầu thực hiện, nhưng hiệu quả của mô hình rất khả quan.


Kỹ sư Ðởm dẫn ra vài con số để chứng minh: Toàn huyện chỉ có 57%  số hộ nuôi tôm sú có lãi, thì tại các Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng có từ 70 đến 100% số hộ nuôi có lãi. Nếu tính riêng xã Mỹ Long Nam, toàn xã có 61,7% số hộ nuôi có lãi, năng suất bình quân đạt 3,4 tấn/ha; thì Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng ấp Tư, xã Mỹ Long Nam số hộ nuôi có lãi đạt tỷ lệ 82%, năng suất bình quân đạt 4,03 tấn/ha.


Lý giải về sự khác biệt này, kỹ sư Dương Tấn Ðởm cho rằng, khác biệt là do giữa hai cách khuyến ngư. Theo cách làm thông thường, mỗi khi chuẩn bị vào vụ nuôi tôm, lực lượng khuyến ngư tỉnh, huyện đều có mở lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi tôm sú cho người nuôi. Các công ty bán giống, thức ăn, thuốc phục vụ nuôi tôm cũng tham gia tập huấn kỹ thuật; Chương trình khuyến ngư về nuôi tôm sú cũng thường xuyên được đưa lên sóng phát thanh, truyền hình.


Bình quân mỗi người nuôi tôm đều được tham gia học tập vài lần, nghe hàng chục lần. Thế nhưng cách khuyến ngư này không mấy hiệu quả. Bởi vì, trình độ học vấn, khả năng tiếp thụ của nông dân không đồng đều, lại ngại ghi chép, trong khi người dạy chủ yếu dạy chay. Giá trị của ao tôm rất lớn, là cả một gia tài của người nuôi, nên nếu hiểu biết một cách lơ mơ thì họ không dám áp dụng; còn nếu có áp dụng thì cũng không hoàn toàn đúng cách.


Ðể hạn chế những yếu kém này, đầu vụ nuôi tôm sú 2008, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cầu Ngang, được sự đồng ý của lãnh đạo huyện cho phép thử nghiệm mô hình khuyến nông mới là lập các Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng để làm khuyến ngư, chuyển giao khoa học - kỹ thuật bằng cách "cầm tay chỉ việc".


Trước khi thành lập các Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng, cán bộ kỹ thuật được phân công về các địa bàn trọng điểm nuôi tôm để vận động, tuyên truyền, tư vấn với người dân về cách làm mới. Như cách tổ chức, việc quản lý môi trường, vấn đề kỹ thuật... Và khi người nuôi tôm tự nguyện vào Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng thì phải tuân thủ đúng điều lệ câu lạc bộ. Lúc đầu người dân cũng chưa tin lắm.

Theo dự định ban đầu thì mỗi Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng gồm 10 hộ canh tác liền kề, nhưng phải đi vận động nhiều lần cũng vẫn còn nhiều câu lạc bộ chưa đến 10 hộ. Một số hộ canh tác liền kề thì không chịu vào câu lạc bộ, ngược lại cũng có những hộ canh tác quá xa, hay điều kiện ao hồ không bảo đảm kỹ thuật xin vào cũng không được chấp nhận.


Vì ở quá xa thì khó mà quản lý, trao đổi kỹ thuật; còn ao hồ không đúng kỹ thuật thì không thể áp dụng kỹ thuật được. Nhưng chỉ sau hai tháng, những người ngoài câu lạc bộ xin vào rất đông, kể cả những người trước đây nhất quyết không chịu vào thì nay cũng xin vào câu lạc bộ.


Theo anh Ðởm, về kỹ thuật thì không có gì khác biệt; chỉ khác là cách chuyển giao. Ở đây áp dụng cách "cầm tay chỉ việc", chuyển giao từng khâu kỹ thuật đúng vào từng thời điểm nuôi cụ thể; vừa học lý thuyết vừa có mô hình thực tế và áp dụng ngay. Như ngay đầu vụ thì nói về khâu thiết kế, cải tạo ao hồ, diệt cá tạp, gây mầu nước, xử lý độ pH...


Hằng tuần, cán bộ kỹ thuật đi thăm vùng nuôi tôm hai lần để phán đoán trước những diễn biến bất lợi có thể xảy ra. Ngoài ra, người nuôi tôm có thể điện báo bất cứ lúc nào nếu phát hiện có những vấn đề bất thường xảy ra, cán bộ kỹ thuật sẽ hướng dẫn cách xử lý kịp thời. Mỗi tuần, câu lạc bộ họp một lần để báo cáo tình hình sản xuất và trao đổi các vấn đề kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật sẽ giải đáp những vấn đề kỹ thuật mà người dân chưa hiểu rõ.


Ông Trần Thanh Thuận, Chủ nhiệm Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng ấp Cái Già, xã Hiệp Mỹ Ðông, huyện Cầu Ngang, phấn khởi nói: Nhờ vào câu lạc bộ mà vụ nuôi tôm vừa rồi 8/10 thành viên trong câu lạc bộ có lãi, có hộ lãi hơn 50 triệu đồng. Do giá dầu và thức ăn nuôi tôm cao, trong khi giá tôm thấp nên mới lãi thấp như vậy. Còn lại hai hộ hòa vốn cũng do họ thu hoạch muộn, giá tôm thấp. Năm rồi, điều kiện thời tiết, môi trường vùng này có nhiều bất lợi, những hồ tôm ngoài câu lạc bộ luôn có biến động, nhiều hộ phải thu hoạch sớm, rất ít hộ có lãi; ngược lại các hồ tôm trong câu lạc bộ không xảy ra biến động lớn. Ðược như vậy là ngon ăn quá rồi. Riêng gia đình tôi có 16 công đất, chuyển nuôi tôm hết 10 công. Chưa chuyển hết đất sang nuôi tôm là do trước đây nắm kỹ thuật lơ mơ, hiệu quả nuôi tôm không chắc, trúng ít mà thất thu nhiều. Năm nay tôi sẽ chuyển hết số đất còn lại sang nuôi tôm.


Chỉ sau một năm được tập huấn kỹ thuật bằng cách "cầm tay chỉ việc", ông Thuận nói về kỹ thuật nuôi tôm khá rành mạch. Ông tự tin nói rằng đã học được 90% bài bản của các kỹ sư truyền đạt, và năm nay có thể tự làm được.


Ðồng chí Nguyễn Thanh Thưởng, Bí thư Chi bộ ấp Cái Già, cho biết, toàn ấp có 222 ha đất sản xuất nông nghiệp. Trong này có 20 ha đất giồng cát, số còn lại nằm trong vùng quy hoạch chuyển đổi nuôi tôm sú của huyện. Sau ba năm thực hiện chuyển đổi, bà con trong ấp đã chuyển đổi sang cơ cấu tôm lúa được 125 ha (bằng 88 ha mặt nước).


Ðồng chí Thưởng nói, bây giờ nông dân ở đây đã thấy được lợi ích khi vào Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng. Ðầu vụ này, rất nhiều người muốn xin vào Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng, muốn thành lập thêm câu lạc bộ mới. Năm nay, chắc là không còn chuyện phải đi vận động nữa, người nuôi tôm rất sẵn sàng tham gia câu lạc bộ. Nếu như mô hình nuôi tôm sú cộng đồng được nhân rộng thì không bao lâu nữa việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở cánh đồng tây này sẽ sớm hoàn thành.


Chúng tôi đến Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng ấp Cà Tum B, xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang. Ðây là cánh đồng nước lợ. Trước kia người dân chủ yếu làm trồng một vụ lúa và nuôi nhữ tôm tép tự nhiên. Ông Hà Văn Bạc nói, hồi đó vùng này sống khỏe lắm. Chỉ lên bao ngạn một công đất thôi, đúng con nước một ngày cũng có thể thu hoạch được 1 kg tôm tép, giá trị tương đương một giạ lúa. Nhưng khi xây dựng cống đập Chà Và xong thì tôm tép tự nhiên ở đây không còn nữa.


Những năm đó đời sống bà con ở đây vô cùng khó khăn. Sau khắc phục sự cố cống đập Chà Và đến nay, tôm tép tự nhiên có phục hồi trở lại, nhưng ít hơn trước kia. Rồi phong trào nuôi tôm sú nước ngọt phát triển, thấy một số nơi nuôi trúng, một số bà con ở đây cũng đào ao để nuôi tôm sú. Những năm đầu cũng trúng khá, diện tích nuôi tôm ngày càng được mở rộng, nhưng càng về sau số hộ nuôi lỗ vốn ngày càng nhiều lên.


Nếu tính chung vùng đất Cà Tum này, năm rồi tỷ lệ hộ nuôi tôm sú có lãi chỉ chiếm khoảng 30%. Riêng tám hộ trong Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng, chỉ có một hộ lỗ vốn, một hộ hòa vốn, còn lại 6 hộ đều có lãi, có hộ lãi  35 triệu đồng, hộ đạt năng suất cao nhất lên đến 4,6 tấn/ha. Ông Hà Văn Bạc nói, vùng đất ở đây không thuận lợi bằng các nơi khác, nhờ vào câu lạc bộ mới nuôi được như vậy.


Ðiểm nổi bật của mô hình nuôi tôm sú cộng đồng là liên kết những người nuôi tôm liền kề lại với nhau để cùng đồng lòng, đồng tâm, đồng trách nhiệm, cùng thực hiện đúng quy trình kỹ thuật do cán bộ khuyến ngư hướng dẫn. Ðặc biệt là cách khuyến ngư "cầm tay chỉ việc" này giúp cho nông dân dễ hiểu và áp dụng được vào thực tế. Lợi ích của những người tham gia Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng là được chia sẻ thông tin, được trao đổi kinh nghiệm; đi liền với trách nhiệm là phải cùng cộng đồng để bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước, quản lý dịch bệnh tôm, đồng lòng chọn thời điểm thả nuôi thích hợp... nhằm bảo vệ môi trường nuôi bền vững.


Nuôi tôm sú theo hình thức cộng đồng sẽ giảm thiểu được những rủi ro thường gặp trước đây, như việc thả giống không đúng lịch thời vụ, người thả giống trước, người thả giống sau, nhất là khi tôm mắc bệnh không xử lý nước mà cứ xả nước mang mầm bệnh ra đường nước công cộng dùng chung, khiến cho dịch bệnh lây lan không kiểm soát nổi.


Kết quả bước đầu tại bảy Câu lạc bộ nuôi tôm sú cộng đồng chưa thể  khẳng định là mô hình nuôi tôm sú lý tưởng, nhưng chắc chắn rằng khuyến ngư theo kiểu này tuy có chậm về số lượng người được học tập, nhưng kiến thức về khoa học kỹ thuật được người dân tiếp thụ sâu và chắc nhất.

Báo Nhân Dân
(2009-01-12)

 

Nhân, nuôi kiến gai đen: Xuất khẩu?

Email In PDF.

Thành công trong việc nghiên cứu và chiết xuất sản phẩm bổ dưỡng từ trứng kiến gai đen, các nhà khoa học kỳ vọng có thể phát triển một ngành công nghiệp kiến gai đen.

Một vài nơi trong nước đang thử nghiệm nhân nuôi bán tự nhiên loài côn trùng này.


Theo PGS.TS Dương Anh Tuấn, Trưởng phòng Sinh dược và Hóa bảo vệ thực vật (Viện Hóa học – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hiện nay Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đang phối hợp với Cty Phú Tịnh nhân nuôi thử nghiệm kiến gai đen ở hai địa phương là Phú Thọ và Bắc Giang.


Huyện Thanh Ba (Phú Thọ) là địa phương đầu tiên triển khai nuôi kiến theo hình thức bán tự nhiên. Đây là nguồn cung cấp chính mặt hàng trứng kiến gai đen phục vụ cho công tác nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ nhiều năm nay.


Số lượng trứng kiến nuôi bán tự nhiên và tự nhiên ở địa phương có thể đạt vài tấn/năm. Trong khi đó, Bắc Giang mới đưa vào nuôi kiến thử nghiệm và cho thu hoạch vụ đầu vài tạ trứng kiến.


PGS Tuấn từng đi thực địa nhiều vùng rừng trong cả nước và nhận thấy tiềm năng nuôi kiến gai đen là rất lớn. Ở Việt Nam, kiến gai đen đã được tìm thấy ở nhiều tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Bắc Giang, Yên Bái… và nhiều tỉnh miền Trung.


“Nơi nào có rừng là nơi đó có kiến gai đen”- TS Tuấn cho biết. Loài kiến này được ghi nhận là rất dễ tính. Chúng có thể sống trên các loại cây như luồng, tre, xoan, trẩu…


Việc nhân nuôi bán tự nhiên kiến gai đen đồng nghĩa với việc phủ xanh rừng, mang lại nguồn gỗ tự nhiên và tăng thêm nguồn thu nhập cho bà con nông dân miền núi.


“Nhiều nơi ở một số tỉnh phía Bắc thường dùng trứng kiến gai đen để chế biến món ăn như mướp đắng xào trứng kiến, xôi trứng kiến, rượu trứng kiến. Một lượng lớn trứng kiến gai đen vẫn được đồng bào dân tộc bán qua cửa khẩu Tân Thanh sang Trung Quốc.


Qua chế biến, sản phẩm từ trứng kiến từ Trung Quốc lại được xuất đi các nước khác với giá rất cao tới 5.000 USD/kg. Với việc nhân nuôi quy mô lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động được nguồn nguyên liệu trứng kiến để phục vụ nhu cầu trong nước, đồng thời xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới” - PSG Tuấn cho biết.


Hiện nay, các nhà khoa học đang có kế hoạch bán các sản phẩm chiết xuất từ trứng kiến gai đen sang thị trường Trung Quốc, Nga và một số nước châu Âu.


Người nghèo cũng có thể dùng


Do hiện nay, nguồn nguyên liệu kiến gai đen vẫn còn nhỏ lẻ, chỉ đủ phục vụ công tác nghiên cứu, nên sản phẩm bột chiết xuất từ trứng kiến gai đen chưa được nhiều người biết đến và nếu mua được, giá thành cũng rất cao.


Một hộp BROCURMA T-K do Cty Green Valley độc quyền với Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam hiện được rao bán trên mạng với giá 1 triệu đồng dưới dạng bột. Viện Khoa học Công nghệ cũng sản xuất và bán chủ yếu cho cán bộ của viện với mẫu mã đơn giản hơn.


“Nguyện vọng của chúng tôi là mọi người dân, nhất là người nghèo, đều có cơ hội sử dụng sản phẩm này để tăng cường sức khỏe. Chúng tôi có công nghệ và chất xám, nhưng để phát triển được việc nuôi kiến thành một ngành công nghiệp, có thể xuất khẩu sang các nước khác thì rất cần sự phối hợp của cơ quan quản lý trong việc xác định, quy hoạch nguồn nguyên liệu và đầu tư vốn” – PSG Tuấn cho biết.


Nhóm nghiên cứu cho hay, thời gian tới, nhóm sẽ tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và đưa ra các sản phẩm mới. Chẳng hạn như thực phẩm chức năng từ trứng kiến gai đen và tảo, trứng kiến gai đen và tật lê, ngài đực tằm v.v…


Việc tăng hàm lượng axit amin trong trứng kiến cũng được xem xét bằng điều chỉnh bằng nguồn thức ăn nếu được nhân nuôi công nghiệp theo dạng bán tự nhiên.


“Có thể mở nhà máy nuôi kiến, nhưng tôi khuyến khích nuôi theo mô hình bán tự nhiên, như thế sẽ giữ được các yếu tố tự nhiên của chúng. Ta có thể can thiệp bằng các biện pháp kỹ thuật như tăng mật độ để cùng một diện tích có thể thu được sản lượng cao hơn và tăng thêm thức ăn” – PGS Tuấn nói.

Báo Tiền phong
(2009-01-09)

 

Hội Làm vườn Quảng Bình: Mô hình trang trại nở rộ

Email In PDF.

Hội Làm vườn Quảng Bình: Mô hình trang trại nở rộ

Với hơn 200.000ha đất gò đồi, 15.000ha mặt nước nên những năm gần đây, các cấp, ban ngành tỉnh Quảng Bình đã dành nhiều ưu tiên cho phát triển kinh tế trang trại. Những ngày giáp Tết, chúng tôi có dịp về thăm một số chi Hội cơ sở của Hội Làm vườn Quảng Bình và tận mắt chứng kiến những mô hình trang trại đạt hiệu quả kinh tế cao cũng như sự thay đổi nhanh chóng của bộ mặt nông thôn nơi đây.


Từ hiệu quả của một chương trình...


Một trong những dự án góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại ở Quảng Bình phát triển là Chương trình phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005 – 2010. Để triển khai Chương trình, các cấp Hội đã phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể quần chúng, tạo nên phong trào làm kinh tế VAC, kinh tế trang trại sâu rộng. Từ sự khuyến khích, giúp đỡ ban đầu, hiện ở Quảng Bình đã xuất hiện hàng ngàn mô hình kinh tế đạt hiệu quả cao.


Với bản tính cần cù, chịu khó, tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, gia đình anh Hoàng Văn Nam ở bản Đá Chát, xã Trường Sơn (Quảng Ninh) đã “vĩnh biệt” cái nghèo và trở thành một trong những hộ có thu nhập cao nhất xã. Anh đã mạnh dạn vay hàng chục triệu đồng để cải tạo vùng đất khô cằn ở Đá Chát thành mô hình VAC với hàng trăm cây ăn quả gồm xoài, bưởi, cam; đào 700m2 ao thả 5.000 con cá chép, mè, trắm. Ngoài ra, anh còn nhận trồng 2ha rừng và 0,5ha đất trống để cải tạo trồng rừng, kết hợp chăn nuôi đại gia súc. Đến nay, 7.000 cây bạch đàn đang phát triển tốt, riêng thu nhập từ mô hình VAC đã mang lại cho gia đình anh hàng chục triệu đồng/năm.


Gia đình ông Trương Như Hợi ở thôn Đông Thiện (Lệ Thuỷ) mấy năm nay cũng gặt hái được thành công từ mô hình chăn nuôi quy mô lớn. Nhờ mạnh dạn vay 15 triệu đồng của Ngân hàng Chính sách Xã hội Lệ Thuỷ, ông đã đào ao thả 1.000 con cá trê giống, 1.000 con cá trắm, mè và ương nuôi 8.000 con cá giống các loại. Không những thế, ông còn nuôi 2 – 3 lứa gà, ếch, trừ chi phí, lãi 100 triệu đồng/năm.


Theo ông Trương Đình Sơn, Chủ tịch HLV tỉnh Quảng Bình, những mô hình kinh tế trang trại như gia đình anh Nam, ông Hợi... đã và đang góp phần tạo thêm sức mạnh cho kinh tế trang trại của tỉnh, nhiều gia đình theo đó học tập, mạnh dạn đầu tư và dần thoát khỏi đói nghèo. Đến nay, HLV tỉnh đã xây dựng được gần 1.000 trang trại với tổng diện tích 5.424ha, tăng 50 trang trại so với năm 2007, trong đó có 796 trang trại đạt tiêu chí, thu nhập bình quân 45 – 50 triệu đồng/trang trại. Trong cơ cấu kinh tế, trang trại trồng trọt vẫn chiếm ưu thế với 579 mô hình, còn lại là trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và trang trại tổng hợp. Hội đã cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 163 hộ gia đình, phấn đấu từ nay đến hết năm 2009 sẽ cấp thêm khoảng 500 giấy chứng nhận cho các chủ trang trại. “Không chỉ tạo việc làm cho 3.000 lao động, các trang trại đã thực sự góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, làm thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu”, ông Sơn nhận định.


Đến những "quyết sách" lớn


Cũng nhờ chú trọng, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại mà đến nay, đã có 50% diện tích vườn tạp, ao hoang, chuồng trống hiệu quả kinh tế thấp của tỉnh được cải tạo. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được mở rộng với 3.351,5ha. Phong trào nuôi trâu, bò phát triển khá mạnh ở các huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch, Minh Hoá với hàng trăm hộ nuôi quy mô từ 20 đến 50 con trâu, bò trở lên. Đặc biệt, nuôi hươu sao đang trở thành một trong những nghề hấp dẫn với bà con. Riêng Chi hội nuôi hươu sao ở huyện Quảng Ninh đã thu hút 36 hội viên tham gia với 106 con. Chủ trương Sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn, chăn nuôi gia cầm, thủy cầm, tôm trên cát, cá chim trắng, cá rô phi đơn tính... được đông đảo hội viên hưởng ứng.


Đến nay, tỉnh Hội đã trực tiếp hỗ trợ, chỉ đạo xây dựng 354 mô hình VAC kết hợp như vườn cây ăn quả ở vùng đồi Phú Thủy, Mỹ Thủy (Lệ Thủy); Vạn Ninh, Hàm Ninh, Hiền Ninh (Quảng Ninh); Phú Định, Tây Trạch, Vạn Trạch (Bố Trạch); mô hình lúa - cá - vịt ở Đồng Phú (TP. Đồng Hới)... Ngoài ra, Hội còn phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Khuyến nông - lâm - ngư, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh... để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng mô hình VAC, trang trại, tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn và chỉ đạo cải tạo 540ha vườn đồi, 1.200ha vùng cát ven biển.


Phát huy những thành quả đã đạt được, năm 2009, HLV Quảng Bình tiếp tục chỉ đạo các cấp Hội tập trung phát triển các mô hình VAC hiệu quả cao, nhằm đạt mục tiêu xây dựng mới 250ha vườn cây ăn quả, 150ha vườn đồi, vườn rừng... Đồng thời, không ngừng tạo ra những sản phẩm nông sản có chất lượng, giá trị cao nhằm tăng thu nhập cho hội viên, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Kinh tế nông thôn
(2009-01-08)

 
Trang 274 trong tổng số 335

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video