Cổng kiến thức về nông nghiệp

Trang chủ Nông dân làm giàu

Nông dân làm giàu

Sâu ăn tạp hại hoa cúc

Email In PDF.

Sâu gây hại trên cây hoa cúc có thể là  sâu ăn tạp (ngoài Bắc gọi là sâu khoang). Sở dĩ gọi như vậy vì đây là một loài sâu ăn tạp, hại trên rất nhiều loại cây (thuộc 99 họ thực vật), trong đó có cây hoa cúc như cháu đã thấy. Vì thế việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn do nguồn thức ăn của chúng rất rồi dào và liên tục có mặt trên đồng ruộng. Sâu gây hại cho bộ lá của cây cúc là chủ yếu, ngoài ra còn hại trên cả nụ hoa và hoa. Nếu bị hại nặng cây cúc sẽ xấu xí không thể chưng chơi làm cảnh được.

Con trưởng thành dài khoảng 15-20 mm, sải cánh rộng 35-40 mm, đầu mầu đen, ngực có nhiều lông mầu vàng rơm, cánh có mầu xám đen với nhiều vệt mầu vàng rơm và có đường viền chạy dọc bìa cuối cánh, chúng thích mùi chua ngọt và thường hoạt động, bắt cặp vào ban đêm. Ban ngày ẩn nấp ở mặt dưới của lá cúc hoặc ở bụi cỏ, lùm cây.


Trứng đẻ thành từng ổ ở mặt dưới của lá, có lớp lông tơ mầu vàng óng ánh bao phủ bên ngoài. Lúc mới đẻ trứng có mầu vàng hơi xanh, sau chuyển dần sang mầu vàng và lúc sắp nở có mầu đen.


Sâu non (ấu trùng) có 6 tuổi, cơ thể hình ống phía đầu hơi to và nhỏ dần về phía đuôi (hình dáng gần giống con cá lóc như cháu đã mô tả). Mình sâu mầu xanh lục hoặc xám, vạch lưng và vạch phụ lưng mầu vàng. Trên mỗi đốt dọc theo vạch phụ lưng có một vệt mầu đen hình bán nguyệt, trong đó vệt đen ở đốt thứ 1 và đốt thứ 8 của bụng là lớn nhất. Sau khi nở sâu non sống tập trung quanh ổ trứng ăn vỏ trứng và gặm biểu bì lá. Khi bị khua động chúng nhanh chóng phân tán ra xung quanh hoặc nhả tơ dong mình rơi xuống.


Lớn lên sâu phân tán dần ra xung quanh, khả năng cắn phá tăng dần, chúng gặm biểu bì lá chỉ còn trơ lại màng trắng. Từ tuổi ba, tuổi bốn trở đi sâu cắn phá mạnh làm lá bị lủng lỗ chỗ, xơ xác chỉ còn trơ lại gân lá. Tuổi nhỏ sâu thường sống trên cây, nhưng từ tuổi 4 trở đi thường chui xuống đất, hoặc ẩn nấp ở những chỗ tối thiếu ánh sáng. Ban đêm mới chui lên cắn phá. Khi đụng đến sâu cuộn tròn lại nằm bất động.


Đẫy sức sâu chui xuống đất làm một cái kén bằng đất hình bầu dục để hóa nhộng. Nhộng dài khoảng 20 mm, hình ống, mầu nâu tươi.


Để phòng trị sâu cháu phải áp dụng kết hợp một số biện pháp sau đây:


- Nếu vụ trước đã trồng cây hoa cúc hoặc những loại rau mầu cũng là ký chủ của sâu ăn tạp thì trước khi trồng cần cày cuốc đất phơi ải kỹ để diệt sâu, nhộng còn đang sống trong đất. Có thể rải một số loại thuốc hột như Vibasu 5H hoặc 10H, Diaphos 10G… sau đó trộn đều thuốc vào đất để diệt sâu.


- Kiểm tra ruộng cúc thường xuyên để phát hiện và thu gom ổ trứng, ổ sâu non vừa nở chưa kịp phân tán đem tiêu hủy. Nếu sâu đã lớn, mật số sâu cao, diện tích trồng cúc không nhiều lắm thì có thể soi đèn bắt sâu vào ban đêm.


- Có thể làm bẫy bả chua ngọt để nhử con trưởng thành đến tiêu diệt bằng cách dùng 4 phần mật (đường đen) trộn với 4 phần dấm, một phần rượu và một phần nước, sau đó cứ 100 phần hỗn hợp này trộn thêm vào 1 phần thuốc trừ sâu Vicarp 95BHN (hoặc Padan 95SP). Bả pha xong đặt trong chậu sành, nhựa... mỗi chậu khoảng 0,25-0,5 lít, đặt cao khỏi mặt đất 0,5 -1 mét nơi đầu gió, mỗi công ruộng (1.000m2) có thể đặt 1-2 bả, mỗi tuần thay bả mới một lần.


Ngoài ra cũng có thể sử dụng bả độc bằng cách dùng một phần thuốc Sumicidin 10EC với 10-15 phần mồi cám, bột bắp, thấm nước cho nhão rồi đặt rải rác trong ruộng vào buổi tối để nhử sâu tuổi lớn ban đêm chui từ đất lên gây hại (những ruộng áp dụng cách làm này không được cho gà vịt... chui vào ruộng dễ bị ngộ độc).


- Kiểm tra ruộng cúc thường xuyên để phát hiện và có biện pháp diệt trừ sâu kịp thời. Nếu ruộng có nhiều sâu có thể luân phiên sử dụng một trong các loại thuốc trừ sâu như: Videci 2,5ND; Diaphos 50EC; Visher 25ND; Sumicidin 10EC/20EC… Nên xịt thuốc lúc sâu còn nhỏ tuổi chưa kịp phân tán rộng, khi sâu đã lớn nên xịt thuốc vào lúc chiều mát để đến đêm sâu bò lên cắn phá dễ bị trúng thuốc hơn.


Do sâu có tính kháng thuốc rất mạnh, không nên sử dụng một loại thuốc liên tục 3 lần (dù thuốc đó tốt). Nếu ruộng đã bị sâu hại nặng, sau khi xịt thuốc bón bổ sung thêm phân giúp cây mau hồi phục.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-19)

 

Vị Xuyên đẩy mạnh phong trào trồng rừng kinh tế

Email In PDF.

Hiện nay, phong trào bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Vị Xuyên đang phát triển khá mạnh mẽ, đặc biệt là trồng rừng kinh tế. Bởi nhân dân đã nhận thức được ý nghĩa quan trọng và lợi ích to lớn cả về trước mắt cũng như lâu dài của rừng và kinh tế rừng.

Xác định được mục tiêu xã hội hoá trồng rừng đang là chiến lược phát triển kinh tế của nhiều địa phương, trong năm qua, để phát triển lâm nghiệp đi vào chiều sâu, huyện rất chú trọng đến công tác tuyên truyền cho nhân dân về hiệu quả của việc trồng rừng sản xuất. Với những chính sách kịp thời, hợp lý của chính quyền các cấp, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện thường xuyên có các chương trình khoanh nuôi, trồng mới những diện tích đất trống, đồi trọc, vì vậy nhiều diện tích rừng đã được phủ xanh. Qua sự mạnh dạn đầu tư của người dân trong việc trồng rừng, đến nay đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể từ việc khai thác, chế biến lâm sản từ vườn rừng. Nhờ vậy cuộc sống của người dân đã khá lên nhiều, thậm chí rất nhiều hộ đã giàu lên từ rừng. Hiện nay ở Vị Xuyên trồng rừng đã trở thành phong trào phát triển kinh tế hộ một cách ổn định và vững chắc. Tại đây có nhiều hộ gia đình đã tự bỏ tiền vốn ra mua cây giống để trồng và chăm sóc rừng. Nhờ được sự quan tâm, hỗ trợ đầu tư của Nhà nước và các doanh nghiệp về trồng rừng sản xuất; rừng khoanh nuôi, phục hồi; rừng trồng mới nên chất lượng rừng đều được nâng cao hơn so với năm trước.


Các chương trình, dự án trồng rừng của Nhà nước đến nay thực sự có hiệu quả, nhất là Dự án 661. Ngay sau khi có kế hoạch của tỉnh giao, Ban quản lý Dự án 661 huyện Vị Xuyên đã chủ động và có kế hoạch phân bổ chỉ tiêu đến 21 xã và 2 thị trấn, được nhân dân tích cực hưởng ứng, bình quân các hộ nhận từ 20 ha trở lên, có một số hộ nhận nhiều nhất 200 ha. Ban quản lý Dự án đã chủ động giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình quản lý và chăm sóc với tổng mức kinh phí Nhà nước hỗ trợ là 2 triệu đồng trên 1 ha, trong đó gồm cây giống, 1 tạ phân bón và cước vận chuyển đến nơi trồng cho nhân dân. Ngoài ra để Dự án đạt hiệu quả cao, Ban quản lý Dự án còn thường xuyên khuyến khích nhân dân bằng cách tổ chức cho các hộ gia đình đi học tập, tham quan một số mô hình ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; đồng thời mở được 3 lớp tập huấn kỹ thuật, cơ chế gieo trồng, bảo vệ rừng cho 3 xã là: Ngọc Linh, Trung Thành và Ngọc Minh.



Do có những chính sách hợp lý của huyện đảm bảo cho việc phát triển rừng bền vững và từ nhiều hình thức tuyên truyền, tập huấn về các biện pháp canh tác, phát triển và bảo vệ rừng nên trình độ nhận thức của người dân về lợi ích của rừng đã ngày một nâng cao và cách nghĩ, cách làm đã có sự chuyển biến đáng kể. Từ sự tích cực, đẩy mạnh phát triển rừng đã đưa diện tích rừng trồng mới của huyện năm 2008 lên 2.024 ha, đạt 103,53% kế hoạch tỉnh giao, trong đó trồng rừng nhân dân được 988,5 ha, đạt 123,56% kế hoạch; Chương trình 661 trồng được 750 ha, đạt 100% kế hoạch; Chương trình 135 trồng được 285,5 ha, đạt trên 80% kế hoạch. Với các cây trồng chủ chốt là cây keo và mỡ cho giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Hiện nay một khối gỗ keo có thể đem lại thu nhập cho người dân 1 triệu 8 trăm ngàn đồng.



Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợithì công tác trồng và bảo vệ rừng ở Vị Xuyên cũng gặp không ít những khó khăn cần phải khắc phục kịp thời, nhất là tập quán thả rông gia súc hiện vẫn tồn tại; một số hộ gia đình diện tích trồng rừng còn nhỏ, lẻ, ngoài ra còn gặp trở ngại trong khâu vận chuyển cây giống vì đường đến một số xã vùng sâu, vùng xa của huyện đi lại rất khó khăn nên khi vận chuyển cây giống đến nơi trồng rất hay bị dập nát, ảnh hưởng đến chất lượng của cây giống.



Nhờ vào việc phát triển diện tích rừng theo các chương trình, dự án hỗ trợ của Nhà nước cho nhân dân đã không chỉtạo ra việc làm cho người lao động, giúp cho các hộ gia đình có điều kiện phát triển kinh tế mà còn tăng tỷ lệ che phủ của rừng, bảo vệ cảnh quan môi trường rừng và cân bằng sinh thái.

Báo Hà Giang
(2009-01-16)

 

Chất kích kháng SAR3 phòng trừ bệnh đạo ôn

Email In PDF.

Sau nhiều năm nghiên cứu, xây dựng các mô hình trình diễn thành công ở HTX Mỹ Thành, xã Mỹ Thành, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và một số địa phương khác, mới đây các nhà khoa học Trường Đại học Cần Thơ đã khuyến cáo bà con nông dân trồng lúa sử dụng chất kích kháng SAR3 để phòng trừ bệnh đạo ôn vừa giảm được lượng thuốc hóa học, tiết kiệm chi phí, đảm bảo chất lượng hạt gạo, vừa bảo vệ được sức khỏe người sản xuất và bảo vệ được môi trường sinh thái.

Giải thích về vấn đề này, PGS. TS Phạm Văn Kim - Nguyên Trưởng Bộ môn BVTV - ĐH Cần Thơ cho biết: Đối với cây lúa, ngay cả những giống nhiễm bệnh cũng tồn tại các gen kháng bệnh. Thường khi cây lúa bị mầm bệnh tấn công thì sau thời gian rất lâu gen kháng mới được báo động và phát huy tính kháng bệnh nên bị trễ, cây lúa bị nhiễm bệnh. Dựa trên nguyên lý này các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra một số hóa chất không độc hại nhưng khi phun lên cây lúa có tác dụng xúc tiến các gen kháng bệnh hoạt động ngay do đó cây lúa không bị nhiễm bệnh, hạn chế được phun các loại thuốc hóa học khác mà vẫn đảm bảo cho cây lúa sinh trưởng, phát triển bình thường, gọi là chất kích kháng.


Những chất kích kháng này có thể được dùng để xử lý hạt giống trước khi gieo, khả năng kháng bệnh kéo dài đến 32 ngày sau khi gieo. Để kéo dài thêm thời gian kháng bệnh có thể phun thêm 1 lần sau khi gieo 25 ngày sẽ cho hiệu quả tốt đến khi lúa trỗ. Sau khi lúa trỗ, mặc dù chất kháng vẫn có hiệu quả nhưng bệnh đạo ôn cổ bông có thể vẫn làm giảm năng suất, do đó nên phun thêm 1 lần thuốc hóa học trước khi lúa trỗ để bảo vệ cổ bông sẽ cho hiệu quả cao. Như vậy, với 1 lần ngâm hạt trước khi gieo và phun 1 lần nữa vào khoảng 25 ngày sau gieo sạ thì có thể thay thế cho 2-3 lần phun thuốc hóa học ở giai đoạn đầu, bảo vệ được cây lúa chống bệnh đạo ôn.


Chất kích kháng SAR3-ĐHCT do Bộ môn BVTV, Đại học Cần Thơ nghiên cứu, sản xuất và cung ứng có thành phần bao gồm: 0,31% Cu; 99,69% là nước và các chất phụ gia. Chế phẩm là loại phân bón lá thế hệ mới có tác dụng ngăn ngừa bệnh đạo ôn (bệnh cháy lá), tăng cường tính kháng bệnh đạo ôn cổ bông, giúp mạ mọc khỏe, cây lúa sinh trưởng nhanh, đẻ khỏe. Nhờ sử dụng qui trình canh tác lúa có sử dụng chất kích kháng bệnh đạo ôn cùng với nhiều giải pháp khác trong nhiều năm liền mà từ năm 2007 HTXNN Mỹ Thành đã trở thành đơn vị đầu tiên ở Tiền Giang SX lúa theo qui trình an toàn GAP. Mỗi vụ giảm ít nhất 2 lần phun thuốc phòng trừ bệnh đạo ôn, tức là lượng thuốc hóa học đưa vào đồng ruộng giảm ít nhất 1kg/ha nhờ sử dụng chất kích kháng, đưa lại hiệu quả kinh tế cao, nông dân rất phấn khởi và tin tưởng làm theo.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-15)

 

Võ Nhai: Vụ đông chuyển mình nhờ cây thuốc lá

Email In PDF.

Ngoài một vài loại rau màu được canh tác, việc cây thuốc lá trong vụ đông tồn tại vững vàng và có triển vọng phát triển mạnh qua 2 vụ vừa qua đã được lãnh đạo huyện Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) xác định đó là cây thế mạnh, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân.

Cây thuốc lá bén rễ đất Võ Nhai trên dưới một thập kỷ qua nhưng chưa bao giờ người dân đưa vào sản xuất chính trong vụ đông. Thực tế đó xảy ra khi chủ trương của lãnh đạo huyện đã bắt gặp được định hướng của Cty cổ phần Ngân Sơn, đơn vị triển khai thu mua thuốc lá nguyên liệu. Qua kiểm nghiệm, chất lượng của nguyên liệu thuốc lá Võ Nhai được xếp bảng A. Cty cổ phần Ngân Sơn đã thực hiện các hợp đồng với người nông dân. Theo đó, người dân trồng thuốc lá vụ đông sẽ được hỗ trợ tập huấn khoa học kỹ thuật, mua phân bón chuyên dụng theo phương thức chậm trả và được bao tiêu sản phẩm.


Ông Đặng Văn Đức - Trưởng phòng NN & PTNT huyện Võ Nhai đánh giá, đơn vị thu mua đã xây dựng một kho chứa nguyên liệu để thu mua tại xã Lâu Thượng, địa bàn trọng điểm phân bố cây thuốc lá, điều đó mở ra triển vọng về việc phát triển vùng nguyên liệu ổn định, hiển nhiên là tăng thu nhập cho người nông dân và hơn thế là tạo ra một diện mạo mới cho cơ cấu cây trồng vụ đông của huyện miền núi vốn nghèo nàn với quỹ đất bỏ hoang còn quá nhiều. Vụ đông 2007, diện tích cây thuốc lá đạt 200 ha, vụ đông năm 2008 đạt 230 ha. Theo kế hoạch, diện tích sẽ được mở rộng lên đến 400 – 500 ha vào các vụ sau. Thuốc lá được trồng chủ yếu ở 3 xã Lâu Thượng, Phú Thượng và Bình Long.


Ông Trần Xuân Phương - Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Lâu thượng cho biết, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thuốc lá rất đơn giản. Điều ngạc nhiên là thay cho lo ngại của người nông dân rằng cây thuốc lá trong vụ đông kém phát triển thì qua 2 vụ, cây trồng này đã khẳng định điều hoàn toàn ngược lại. Với diện tích cây thuốc lá của gia đình gần 1 ha, ông Ma Văn Giáp, xã Lâu Thượng nói, thuốc lá đông không bị sâu bệnh, năng suất cao và chất lượng lại vượt trội. Ở xã Lâu Thượng có nhiều gia đình trồng trên 1 mẫu thuốc lá vụ đông.


Ông Nông Văn Nin, ở xóm Nà Dương quả quyết, hiệu quả làm nông nghiệp trên đất Lâu Thượng thì chưa có loại cây trồng nào đánh đổ được cây thuốc lá. Để chứng minh, ông Nin và bà Nguyễn Thị Hoa cùng sơ bộ nhẩm tính như sau, mỗi sào thuốc lá, người nông dân phải đầu tư 600 ngàn đồng tiền giống, phân bón và than sấy. Năng suất ước đạt 80 kg/sào. Với giá thu mua thời điểm hiện nay từ 35 – 40 ngàn đồng/kg thì mỗi sào, người dân sẽ thu được từ 2,8 – 3,2 triệu đồng. Trừ đầu tư ít nhất cũng còn 2,2 – 2,6 triệu đồng/sào. So sánh, cây ngô đạt 700 ngàn, cây lúa đạt 800 ngàn đồng/sào mà còn chưa trừ tiền đầu tư. Rõ ràng giá trị thu nhập của cây thuốc lá gấp 3 lần 2 loại cây trồng phổ biến ở Võ Nhai là ngô và lúa.


Thoăn thoắt đan những lá cây thuốc lá lên sào để mang sấy khô, bà Nông Thị Phương (xóm Làng Mó, xã Phú Thượng) nói chuyện, trồng thuốc lá mất ít công chăm sóc. Việc sấy thuốc lá trước đây mất nhiều công sức do người dân phải đi rừng lấy củi. Nay các hộ dân đã được tập huấn kỹ thuật làm lò sấy than nên rất thuận tiện mà lại đỡ hao tốn công sức. Các hợp đồng kinh tế trực tiếp với công ty cũng mang lại sự yên tâm về việc bao tiêu sản phẩm đầu ra. Bà Phương nói, không có cây thuốc lá thì người nông dân xã Phú Thượng không biết trồng loại cây gì trong vụ đông này.


Trên cơ sở những triển vọng đó, ông Đặng Văn Đức - Trưởng phòng NN & PTNT huyện Võ Nhai cho biết, với chức năng của đơn vị chuyên môn, phòng NN sẽ giám sát các hợp đồng kinh tế để bảo đảm quyền lợi cho người nông dân. Mặt khác, phòng sẽ xây dựng kế hoạch, tham mưu để lãnh đạo huyện có định hướng khuyến khích phát triển diện tích cây thuốc lá với mục tiêu đạt 400 ha, sản lượng 900 tấn trong vụ đông năm 2009 và những năm tiếp theo.

Báo Nông nghiệp
(2009-01-15)

 

Thăm vùng quất, đào Tân Sỏi

Email In PDF.

Thăm vùng quất, đào Tân Sỏi

Tới xã Tân Sỏi (Yên Thế) những ngày này, chúng tôi nhận thấy niềm vui đang đến với người trồng đào, quất. Dù mới được đưa vào trồng song Tân Sỏi đang dần trở thành vùng chuyên canh hai loại cây trồng được coi là thế mạnh của địa phương.

Quất làng Dầm



Theo chân ông Phạm Văn Sếp, Chủ tịch Hội nông dân xã Tân Sỏi về thăm làng Dầm, chúng tôi có dịp cảm nhận không khí nhộn nhịp của bà con chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch quất. Ông Sếp là cán bộ nhiều năm gắn bó với vùng đất Tân Sỏi kể lại cho chúng tôi về nghề trồng quất ở nơi đây.  Những năm 60 của thế kỷ trước, Tân Sỏi là một trong những địa phương trồng nhiều cam Sành của huyện Yên Thế. Dọc đôi bờ sông Sỏi ngày đó là những đồi cam trĩu quả. Mỗi dịp Tết đến xuân về, cam ngả màu vàng óng trên các vườn đồi. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, cây cam dần bị mai một, thay vào đó là những đồi bãi trồng ngô, khoai, sắn… Sau thời hoàng kim của cây cam, một số hộ quê ở Hải Dương lên Yên Thế định cư mang theo nghề trồng quất. Với ưu điểm ra quả quanh năm, ít sâu bệnh, dễ chăm sóc, đặc biệt rất thích hợp với vùng đất bãi bồi dọc sông Sỏi nên theo thời gian, cây quất không ngừng được nhân rộng, nhất là những năm gần đây. Vào ngày thường, người trồng quất bán quả cho các nhà hàng, khách sạn và dùng trong sinh hoạt, đến dịp tết đánh cây, cắt cành, hái quả bán cho tư thương hoặc trực tiếp vận chuyển đi tiêu thụ. Do cho thu nhập cao  nên chẳng bao lâu vùng quất được hình thành trải dài theo những bãi bồi ven sông Sỏi, nhưng tập trung nhiều nhất là ở thôn Dầm.


Bà Thân Thị Xuân, Bí thư chi bộ thôn Dầm cho biết: Thôn có 64 hộ thì 100% đều trồng quất với tổng diện tích khoảng 5ha. Hiện tại, quất là một trong những cây cho thu nhập chủ đạo của thôn. Những hộ trồng quất với diện tích lớn (từ một mẫu trở lên) phải kể tới hộ anh  Ngân, anh Quế… mỗi năm có thu nhập từ 50-70 triệu đồng. Từ cây quất, kết hợp với chăn nuôi gà đồi, lợn…đời sống của người dân thôn Dầm không ngừng được cải thiện. Hầu hết các hộ trong thôn có thu nhập khá,  chỉ còn một hộ nghèo. Bà Đào Thị Miên, một trong những hộ trồng nhiều quất trong thôn, tâm sự: "Trồng quất tốn ít công chăm sóc hơn so với cấy lúa và cây màu khác. Vào thời điểm rộ quả, trung bình mỗi hộ nếu tự đưa quất đi tiêu thụ cũng có khoản thu từ 50- 70 nghìn đồng/ngày".


Đào Tân An


Nếu cây quất được các hộ thôn Dầm trồng nhiều thì cây đào lại "bén duyên" với đồng đất Tân An. Tới Tân An những ngày này, dọc hai bên con đường nhựa vừa được làm mới là những vườn đào đang ra nụ. Anh Nguyễn Văn Tình, người có hơn 10 năm trồng đào  đang cẩn thận uốn cành cho vườn đào của gia đình, nói với chúng tôi: "Năm nay nhà tôi trồng hơn 2 sào đào với gần 500 cây. Đợt mưa bão vừa qua 20% số đào   bị ảnh hưởng, số còn lại vẫn xanh tốt. Nếu thời tiết thuận lợi, với giá bán như năm ngoái thì thu nhập từ đào cũng được gần 50 triệu đồng". Được biết dịp tết năm ngoái những cây đào đẹp, anh Tình bán tại ruộng với giá trên dưới 300 nghìn đồng/cây, cá biệt có cây bán với giá gần 1 triệu đồng. Theo nhận định của nhiều hộ có kinh nghiệm, năm nay giá đào có thể tăng vì thời tiết tương đối thuận lợi, hơn nữa trong trận lụt lịch sử vừa qua, diện tích đào ở nhiều nơi, nhất là những vùng đào nổi tiếng của Hà Nội như Nhật Tân, Quảng Bá bị hỏng nặng. Ông Nguyễn Thế Hữu, trưởng thôn Tân An cho biết: Trong thôn có 54 hộ thì có hơn 30 hộ trồng đào với diện tích 2ha và khoảng 15 hộ khác trồng hoa. Mặc dù cây đào mới được trồng nhiều trên đồng đất của thôn từ năm 2002 trở lại đây song đã mở ra hướng đi mới cho nhiều hộ. Những người trồng nhiều đào, như các anh: Nguyễn Văn Cát, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Tuân… mỗi năm có thu nhập từ 70- 100 triệu đồng.


Ông Nguyễn Văn Hải, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Sỏi cho biết: Đến thời điểm này toàn xã đã có khoảng 26ha quất và 2ha đào. Mặc dù mới được đưa vào trồng nhưng hiệu quả kinh tế của cây đào và quất cao hơn nhiều lần so với vải thiều và nhiều cây trồng khác. Trung bình 1ha quất cho thu nhập từ 80-100 triệu đồng, đào từ 180- 200 triệu đồng.  Tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Yên Thế, được biết thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện, năm 2005, Yên Thế đã triển khai dự án do tổ chức PLAN hỗ trợ kỹ thuật, thuốc bảo vệ thực vật, giống và phân bón cho vùng đào, quất Tân Sỏi để khai thác lợi thế dải bãi bồi ven sông. Mới đây Công ty chế biến rau quả Nghệ An có đặt vấn đề ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm quất để chế biến mứt nhưng Tân Sỏi không thể đáp ứng đủ số lượng. Tuy nhiên đây là hai loại cây rất dễ tiêu thụ trên thị trường nên trước mắt bà con vẫn tự túc lo đầu ra cho sản phẩm.

Báo Bắc Giang
(2009-01-15)

 

Nuôi giun quế làm thức ăn cho gia cầm

Email In PDF.

Để từng bước xây dựng các mô hình làm thí điểm cho các hội viên cơ sở, tăng thu nhập cho hộ chăn nuôi gia cầm, Hội Làm vườn huyện Thọ Xuân đã triển khai xây dựng 5 mô hình nuôi giun quế tại 5 hộ dân thuộc các xã: Hạnh Phúc, Xuân Hòa, Xuân Tân, Xuân Lai và Xuân Vinh với số lượng 100 kg giun giống/mô hình.

Đây là mô hình mới được áp dụng nuôi trên địa bàn huyện để tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và bảo đảm an toàn dịch bệnh cho đàn gia cầm. Thực hiện mô hình này, huyện hội đã hỗ trợ 1,5 triệu đồng tiền giống/hộ và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, nhân giống giun...


Sau hai tháng thực hiện đã cho hiệu quả rõ rệt, từ 100 kg hợp chất gồm: đất, trứng giun, giun con đã phát triển lên được 2 tấn, trong đó có 60 kg giun nguyên chất làm thức ăn cho gia cầm, còn lại là các hợp chất nhân giống giun mới, phân giun được tận dụng làm phân bón cho cây trồng. Số gia cầm ăn giun có trọng lượng tăng nhanh, thịt chắc, chỉ sau hai tháng có thể xuất bán với trọng lượng 2kg đến 2,5kg/con.

Báo Thanh Hóa
(2009-01-15)

 

Năm 2009, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành phấn đấu trồng mới 170 ha rừng

Email In PDF.

Năm 2009, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành phấn đấu trồng mới 170 ha rừng

Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành hiện đang quản lý, chăm sóc rừng trên diện tích 9.919 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn 11 xã của huyện Thạch Thành (rừng phòng hộ 6.915 ha, rừng sản xuất 3.004 ha).

Năm 2008, ban quản lý đã triển khai trồng mới 145 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ 40 ha, rừng sản xuất 105 ha, bằng các loại cây lát hoa, trám trắng, keo Úc, thông, keo Hàm Yên. Để bảo đảm kế hoạch phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, năm 2009, ban quản lý phấn đấu trồng mới 170 ha rừng (rừng phòng hộ 100 ha, rừng sản xuất 70 ha).


Để đạt được kế hoạch, đơn vị tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế, lập hợp đồng trồng rừng và giao khoán đến từng hộ. Tổ chức gieo ươm đạt 20% cây giống trở lên phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm nay, bảo đảm chất lượng giống cây tập kết tại chân các địa điểm trồng. Đưa giống keo lai Úc được nhập ngoại vào trồng rừng sản xuất, keo tai tượng xuất xứ từ Hàm Yên vào trồng rừng  phòng hộ. Trồng bổ sung các loại cây có giá trị kinh tế như lát hoa, trầm hương. Phấn đấu tỷ lệ cây sống đạt từ 90% trở lên.

Báo Thanh Hóa
(2009-01-15)

 

Thuận Thành đưa lúa lai lên 40% diện tích

Email In PDF.

Thuận Thành đưa lúa lai lên 40% diện tích



Vụ xuân 2008, năng suất lúa bình quân của Thuận Thành đạt 63tạ/ha, tăng 3,7 tạ/ha so với vụ xuân 2007. Đạt được kết quả đó là do huyện đã đẩy mạnh tiếp thu và mở rộng được 1.300 ha lúa lai, chiếm hơn 20% diện tích lúa. Năng suất lúa lai bình quân 70 tạ/ha, cao hơn so với lúa thuần 8-9 tạ/ha, nhiều diện tích đạt 79 - 80 tạ/ha. Thành công này đã tạo niềm tin cho nông dân mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.


Nhận thấy các giống lúa lai thể hiện rõ các ưu thế trong điều kiện sản xuất vụ xuân, trong vụ xuân 2009, huyện tập trung mở rộng lúa lai lên 2.300 ha, chiếm 40% diện tích lúa. Để hoàn thành được mục tiêu, Ban Thường vụ Huyện uỷ yêu cầu các ban, ngành, đoàn thể cùng với ngành nông nghiệp tập trung các nguồn lực cho công tác sản xuất vụ xuân, mà trọng tâm là sản xuất lúa lai. UBND huyện cũng thành lập Ban chỉ đạo sản xuất, gồm phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Tài chính-Kế hoạch, Xí nghiệp Thuỷ nông, Trạm Khuyến nông, Trạm BVTV, Đài truyền thanh huyện, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn do đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban.


Khác với năm 2008, vụ xuân năm nay UBND huyện yêu cầu các xã, thị trấn thành lập Ban chỉ đạo sản xuất cơ sở và trực tiếp do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban. Các chỉ tiêu kế hoạch đã được đưa vào Nghị quyết của từng chi bộ cơ sở để triển khai và xác định vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cán bộ địa phương là nòng cốt và đi đầu trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của huyện, tỉnh đến với người dân. Các thành viên trong Ban chỉ đạo được phân công thường xuyên bám sát cơ sở, chỉ đạo việc thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện và báo cáo tình hình thực hiện cho Ban chỉ đạo để có những biện pháp giải quyết kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn.


Để khuyến khích sản xuất, ngoài hỗ trợ của tỉnh, huyện đã trích ngân sách hỗ trợ thêm 30% giá giống và các xã cũng trích ngân sách hỗ trợ thêm từ 10% trở lên. Với tổng kinh phí đã hỗ trợ hơn 80% giá giống, nên tiền đầu tư về giống lúa lai của nông dân chỉ bằng một nửa so với các giống lúa thuần.


Do kỹ thuật sản xuất lúa lai vẫn còn khá mới mẻ với nhiều địa phương chưa có kinh nghiệm, để giúp nông dân tại các cơ sở nắm rõ đặc điểm, ưu thế về năng suất, chất lượng, kỹ thuật thâm canh của lúa lai, huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên hệ thống Đài phát thanh huyện; Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến nông đã đẩy mạnh công tác tập huấn kỹ thuật sản xuất cho nông dân, đồng thời phối hợp với Trung tâm Khuyến nông - khuyến ngư, Trạm BVTV biên soạn quy trình sản xuất lúa lai trong vụ xuân, phục vụ cho công tác chỉ đạo sản xuất và tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật...


Với những nỗ lực đó, đến nay lượng giống lúa lai do Trạm Khuyến nông huyện cung ứng đã đạt 63 tấn, đủ để cấy cho hơn 2.500 ha lúa lai, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Hiện các HTX tiếp tục đăng ký mua giống lúa để mở rộng tối đa diện tích lúa lai.

Báo Bắc Ninh
(2009-01-15)

 

Bưởi Diễn nở hoa trên đất chè

Email In PDF.

Bưởi Diễn nở hoa trên đất chè

Đến thị xã Sông Công (Thái Nguyên), chúng tôi thấy giữa khu rừng chỉ toàn cây tạp nổi lên vườn bưởi quả vàng rực. Hỏi ra mới biết đây là vườn bưởi Diễn của ông Nguyễn Quang Yên ở thôn Mỗ, xã Tân Quang. Tò mò vì thấy giống bưởi của Thủ đô “nhập cư” được ở đất chè, chúng tôi tìm gặp ông Yên để hỏi chuyện...


Chặng đường chinh phục


Trên con đường ngoằn ngòe dẫn vào thôn Mỗ, hiếm thấy có vườn cây ăn trái nào thật sự “ấn tượng”. Chỉ tới khi đến nhà ông Yên, chúng tôi mới được chiêm ngưỡng một vườn bưởi Diễn hoành tráng.


Chúng tôi đến khi ông Yên đang thoăn thoắt trảy những trái bưởi căng mọng cho vào sọt. Thấy khách lạ, ông nghỉ tay pha trà và trò chuyện thân tình. ông tâm sự: “Mặc dù năm nay mới là vụ đầu nhưng cây nào cũng sai, hình thức quả rất đẹp mắt. Về chất lượng, không ngờ mảnh đất cằn cỗi này lại cho những trái bưởi ngon đến thế...”. Vừa nói, ông Yên vừa lấy dao gọt một trái bưởi căng tròn. Chúng tôi ăn thử, ai cũng tấm tắc khen vị ngọt mát của những múi bưởi căng mọng.


Vốn quê gốc ở huyện Hoài Đức (Hà Nội), ông Yên có gần 30 năm làm nghề thu mua bưởi ở khắp các tỉnh, thành. Quãng thời gian gắn bó với cây bưởi giúp ông có vốn kiến thức kha khá về cách chăm sóc cũng như nhận biết được sự thích nghi của loại quả này trên từng loại đất. Trong một lần lên thăm người nhà ở xã Tân Quang, ông Yên được chứng kiến những vườn đồi trung du trồng bạt ngàn chè. Đáng buồn là ở thôn Mỗ, nhiều khu vườn, quả đồi lại bị bỏ hoang. Tiếc đất bỏ không trong khi đời sống người dân còn nhiều khó khăn, ông Yên day dứt: “Tại sao không đem bưởi Diễn trồng thử ở đất này?”. Nói là làm, vài tháng sau người dân thôn Mỗ thấy ông thuê xe ô tô chở cây giống, phân bón lên đất này, bắt đầu hành trình “nhập cư” bưởi Diễn vào vùng đồi.


Ban đầu, ông Yên gom tiền mua lại một khu đồi của người dân địa phương, phát quang cỏ dại, xới đất... Tiếp đó, ông thuê người đào hố trồng bưởi, thuê thợ xây hàng rào bao quanh... “Mình hăng quá, cứ lao vào làm mà không để ý, đến khi hoàn thành khu vườn cũng mất ngót trăm triệu đồng. Rất may, anh em, bạn bè nhiệt tình giúp đỡ nên công việc cũng xong”, ông Yên cười nói.


Có vườn cây rồi, ông Yên lại ngày đêm chăm sóc. Từ sáng sớm đến chiều muộn, lúc nào cũng thấy bóng ông bên những gốc bưởi... Thời tiết vùng núi khắc nghiệt, những đợt sương mù, gió rét không khiến ông nản lòng... Sau 4 năm kể từ lúc trồng gốc bưởi đầu tiên, năm 2008, những cánh hoa trắng xinh bắt đầu hé nở, lứa quả ngọt đầu mùa khiến ông chủ sung sướng khôn nguôi...


Tthành quả...


Rời quê hương, xa vợ con lên vùng đồi Tân Quang dựng nhà lập nghiệp, nhiều lúc ông Yên không khỏi chạnh lòng. Có khi vợ con không thông cảm, cho rằng ông già nên lẩm cẩm. Thế nhưng, ý chí của ông đã khiến mọi người phải suy nghĩ lại. Từ phản đối, vợ con quay sang ủng hộ và giúp ông hoàn thành ước mơ lớn trong đời.


Không chỉ chăm lo phát triển vườn bưởi của mình, ông còn động viên và giúp đỡ hàng chục gia đình trong vùng làm theo. Nhờ đó, đồi hoang ở thôn Mỗ dần được thay thế bằng những vườn cây xanh tươi. Sau 4 năm vất vả theo cây bưởi, ông Yên và nhiều gia đình khác đã có “mùa quả vàng” đầu tiên. Ông khoe: “Mới đầu vụ, dù chưa trảy hết quả nhưng tôi đã bán được hơn 30 triệu đồng”. Nhìn những thùng quả chất đầy trong nhà, ngoài vườn, những cây bưởi dù đã trảy qua một lượt nhưng vẫn rất sai quả, chúng tôi nhẩm tính, với giá bán tại vườn 15.000 - 20.000 đồng/quả, ông Yên vẫn còn thu hàng chục triệu đồng.


Nói về kinh nghiệm trồng bưởi Diễn trên đất đồi, ông Yên cho biết: “Bưởi Diễn là loại cây không kén đất, chỉ cần chăm sóc đúng kỹ thuật sẽ thu được quả ngọt và có màu vỏ vàng bắt mắt. Ngoài ra, phải đặc biệt chú ý đến việc tưới nước khi cây ở thời kỳ nuôi quả vì tưới thừa nước hoặc không đúng cách sẽ làm tôm bưởi nhạt. Điều thú vị nhất là cây càng lâu năm, chất lượng quả càng ngon nên bà con lưu ý chăm sóc những cây cao tuổi, đó là của quý đấy!”.


Hiện, ngoài việc cho thu hoạch quả, vườn bưởi của ông Yên còn đem lại vài chục triệu đồng/năm từ việc chiết ghép và bán cây giống. Nhờ làm ăn hiệu quả, vườn bưởi của ông Yên được Trung tâm Khuyến nông thị xã Sông Công chọn làm điểm tham quan để bà con học tập.

Kinh tế nông thôn
(2009-01-15)

 
Trang 274 trong tổng số 336

Tìm kiếm

Đăng nhập



Tư liệu

____ Video VideoHình ảnh Hình ảnhẤn phẩm Ấn phẩm ____

Video