Nuôi loài cá “chuyển giới”, dễ chăm sóc, cho lợi nhuận khủng

2019-12-11 12:53:20

Cá mú, hay còn gọi là cá song, từ lâu đã nổi tiếng với chất lượng thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, được các nhà hàng săn đón và là mặt hàng xuất khẩu nhiều tiềm năng. Trước đây, nguồn cá mú cung cấp cho thị trường chủ yếu là nhờ đánh bắt ngoài tự nhiên. Nhận thấy cá mú có giá trị kinh tế cao, lại dễ nuôi nên vài năm trở lại đây, người ta đã đưa cá mú vào nuôi trong lồng hay trong ao đất. Mô hình nuôi cá mú thương phẩm tuy không mới nhưng thị trường tiêu thụ vẫn đang rất rộng mở, hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho người nuôi.

Cổng Nông Dân xin giới thiệu đến bà con mô hình nuôi cá mú, các loại cá mú hiện đang được nuôi phổ biến ở nước ta và đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại, cũng như một số lưu ý trong quá trình nuôi.

Các giống cá mú phổ biến

Hiện nay ở nước ta, các giống cá mú được nuôi phổ biến là cá mú nghệ, cá mú lai và cá mú đen. Để có cái nhìn tổng quan về hiệu quả kinh tế của từng loại, chúng tôi đã đưa ra thống kê trong bảng sau:

Tiêu chí Cá mú nghệ Cá mú đen

Cá mú lai

Đặc điểm

Dễ nuôi, ít bệnh tật hơn, thịt thơm ngon Thích nghi kém, phát triển chậm

Ngoại hình đẹp, phát triển nhanh, chịu được độ mặn thấp

Thời gian nuôi

24 tháng trở lên 13-16 tháng

10 tháng

Kích thước khi thu hoạch

12-25kg 0.6-1kg

1kg

Giá con giống

12.000đ cho mỗi cm chiều dài cá giống (gấp 6-7 lần cá mú đen và cá mú lai)  20.000 đ/con từ 7-8cm

20.000 đ/con từ 7-8cm

Giá thương phẩm (theo kích cỡ)

300.000 – 500.000đ/kg 140.000 – 160.000đ/kg

180.000-280.000đ/kg

 

Trong các loại cá mú thì cá mú nghệ có giá trị kinh tế cao hơn nhưng thời gian nuôi kéo dài. Do vậy, nếu muốn nuôi loại này, bà con cần xác định là vốn đầu tư cao, và phải có nguồn thu ngắn hạn khác. Nếu không, bà con có thể chọn nuôi cá mú lai, đây là giống mới có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với cá mú đen. Ngoài ra, trên thị trường nước ta còn có loài cá mú đỏ, chất lượng thịt thơm ngon như cá mú nghệ, giá cũng rất đắt đỏ, khoảng 300.000đ/kg nhưng con giống còn khá hạn chế và tỉ lệ hao hụt cao nên chưa được nhiều người nuôi. Tùy vào điều kiện kinh tế mà bà con có thể chọn giống nuôi cho phù hợp.

Cá mú nghệ thời gian nuôi càng lâu càng đạt kích thước khủng

Nuôi cá mú ở đâu?

Do tập tính sống trong môi trường có nguồn nước lưu thông thường xuyên nên đa số người nuôi thường thả cá vào lồng, bè treo dưới biển. Với hình thức nuôi lồng, đối tượng này tỏ ra khá thích hợp và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Song, hình thức nuôi này khá tốn kém và cá thường xuyên chịu ảnh hưởng của nhiều biến động do ảnh hưởng xả lũ, áp thấp nhiệt đới, bão, các chất thải tàu khai thác vào neo đậu. Do vậy nuôi cá mú trong ao đất là một niềm hy vọng mới cho bà con ngư dân, vì chi phí đầu tư vừa phải, hệ số thức ăn thấp, cá ít bị bệnh.

Lưu ý trong quá trình nuôi

Một hiện tượng khá lý thú là cá mú có sự chuyển đổi giới tính đực-cái. Cá dưới 50cm đều là cá cái, khi đạt 70cm trở lên lại chuyển thành cá đực. Chúng có thể đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào những tháng 5, tháng 7 ở miền Bắc và tháng 12, tháng 3 ở miền Trung. Nắm rõ tập tính này, người nuôi có thể chủ động trong khâu sản xuất con giống.

Trước khi thả con giống xuống môi trường nuôi, bà con cần tắm cá bằng nước ngọt để hạn chế các mầm bệnh. Khi mới thả chưa cần cho cá ăn ngay, để cho cá có thời gian thích nghi với môi trường mới.

Cá mú là loài cá dữ, lanh lẹ, hoạt động nhiều và rất háu ăn. Thức ăn ưa thích của chúng là các loài cá tạp băm nhỏ. Bà con cần chú ý lượng thức ăn, tránh dư thừa làm ảnh hưởng đến nguồn nước trong ao nuôi. Mặc dù cá mú có sức đề kháng tốt, ít dịch bệnh nhưng chúng cũng có thể mắc một số bệnh thông thường như nấm, ghẻ lở, đường ruột. Đây là những bệnh dễ xử lí bằng thuốc nên bà con không cần quá lo lắng. 

Cá mú lai đạt trọng lượng 1 kg/con sẽ được xuất bán.

Một ưu điểm nữa đối với con mú lai so với các đối tượng thủy sản khác là giá trị kinh tế cao trong khi chi phí nuôi lại thấp. Do đó, nếu xảy ra dịch bệnh thì người nuôi cũng không bị thiệt hại hoàn toàn. Theo các hộ nuôi cá mú lai, chi phí từ khi thả giống đến khi thu hoạch vào khoảng 90.000 – 100.000 đồng cho một con. Như vậy, nếu thả 10.000 con, bị thiệt hại đến 50% sản lượng thì số còn lại nuôi vẫn có thể có lãi.

Cổng Nông Dân
 


Xem thêm


Cộng Ngay 10.000 Cho 100% Khách Hàng
Hoi Dap Nha Nong Voi Chuyen Gia